TRAN XUAN AN - PCDT NGUYEN VAN TUONG (tap IV A)

Tuesday, December 20, 2005

Tệp 2 – Tập IV Blog A
(phân đoạn 2, truyện kí thứ 11)


TRẦN XUÂN AN

THẾ TRẬN
“TOẠ SƠN QUAN SONG HỔ ĐẤU”


Truyện kí thứ mười một
(phân đoạn 2)

12

“HOÀ” ƯỚC GIÁP THÂN (1884) (94)

“Chính phủ nước Pháp cộng hoà và triều đình vương quốc Đại Nam (*),trên tinh thần mong muốn chấm dứt vĩnh viễn sự tái diễn các vụ việc đã xảy ra trong thời gian gần đây, và thắt chặt các quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt, đã quyết định kí một hiệp ước nhằm đạt mục đích đó và đã cử các đại diện toàn quyền cho mỗi bên như sau:
[Đại diện] tổng thống nước Pháp cộng hoà: ông Jules Patenôtre…
[Đại diện] đức vua vương quốc Đại Nam: các ông Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan (chánh phó toàn quyền đại thần); ông Nguyễn Văn Tường (dự thương)…
Các vị trên, sau khi đã trao đổi giấy uỷ toàn quyền của đôi bên và nhận thấy là đúng thể thức, đã cùng nhau thoả thuận các điều khoản như sau:” (95)
+++ “Điều khoản I: Nước Đại Nam tự nhận nước Pháp giúp đỡ, nghĩa là nước Đại nam có giao thông với nước nào, thì nước Đại Pháp giúp đỡ công việc, và nhân dân nước Đại Nam có ở nước ngoài thì Đại Pháp cũng giúp đỡ.
+++ Điều khoản II: Quân Đại Pháp đóng lâu ở đồn cửa biển Thuận An. Từ cửa biển ấy lên tới kinh thành, các đồn luỹ ở ven sông và công việc phòng bị, nước Đại Nam cần phải triệt bỏ.
+++ Điều khoản III: Địa giới nước Đại Nam, từ giáp tỉnh Biên Hoà, [thuộc] Nam Kì, về phía bắc, cho đến giáp tỉnh Ninh Bình, [thuộc] Bắc Kì, các quan viên ở tỉnh đều làm chức tự trị dân như cũ. Trừ ra các nha thương chính và cục tạo tác, nên có quan Pháp trông coi. Còn việc thường mà có ứng dụng quan bác vật, hãy dùng người Pháp để trông coi.
+++ Điều khoản IV: Nước Đại Nam tự giáp tỉnh Biên Hoà đến giáp tỉnh Ninh Bình, những tỉnh ở khoảng giữa ấy, trừ ra cửa biển Thi Nại đã mở buôn rồi, nay Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam, Xuân Đài thuộc tỉnh Phú An [:Yên], hai cửa biển đó nên mở thêm bến buôn ra. Còn dư các cửa biển khác, sau này xét có ích lợi thì họp bàn mở thêm việc buôn. Nước Pháp cũng có đặt quan ở những chỗ bến buôn mở thêm ấy. Nhưng những quan ấy phải theo lệnh của quan khâm sứ đại thần ở kinh.
+++ Điều khoản V: Quan khâm sứ đại thần [Pháp] đóng ở kinh chuyên về giữ công việc ngoại giao nước Đại Nam với nước ngoài, không có dự kịp tới công việc các tỉnh ở trong giới hạn [đã ghi tại] khoản thứ III. Khâm sứ đại thần, lại được thẳng vào tâu với đại hoàng đế nước Đại Nam. Quan khâm sứ đại thần ấy ở trong kinh thành, có quân Pháp theo hầu.
+++ Điều khoản VI: Các tỉnh nước Đại Nam từ giáp Ninh Bình trở về phía bắc, tỉnh nào có sự cần cấp, thì nước Đại Pháp [thấy] nên đặt công sứ hay bọn phó công sứ, đều theo lệnh quan khâm sứ ở kinh. Tỉnh nào có công sứ hay phó công sứ, thì trong các tỉnh ấy, gần chỗ quan tỉnh ở thì cùng công sứ, phó sứ đó, có lính Pháp hay lính Nam theo hầu.
+++ Điều khoản VII: Quan công sứ nước pháp đặt ở tỉnh nào ở Bắc Kì, quan công sứ ấy không được dự làm những việc dân chính trong tỉnh ấy. Các quan tỉnh ấy, không kể là hạng quan nào, cứ cai trị hạt dân như cũ. Như quan Pháp có kiểm được quan Nam nào nên làm hoán cách, có xin hoán cách ấy, tức làm hoán cách.
+++ Điều khoản VIII: Nước Đại Pháp không kể viên dịch nào, như có việc gì nên tư báo với các quan nước Đại Nam thì do quan công sứ nước Pháp tự báo mà thôi.
+++ Điều khoản IX: Nước Đại Pháp sẽ dựng một con đường điện báo từ Sài Gòn đến Hà Nội, chuyên do người Pháp trông làm. Khoản này nếu được tiền lời bao nhiêu, nước Pháp trích lấy một phần giao cho nước Nam tiêu dùng, vì nước Nam có nhường phần đất để đủ chỗ làm. Do đó những nhân viên điện báo mới có thể dựng được những buồng bếp, nhà cửa để ở.
+++ Điều khoản X: Các người ngoại quốc ngụ ở nước Đại Nam từ giáp Biên Hoà đến giáp Ninh Bình và địa hạt Bắc Kì, thì đều chịu dưới quyền nước Đại Pháp xử đoán. Như người nước Nam cùng người nước ngoài, hay như người nước ngoài cùng nước Nam có việc gì tranh kiện nhau, thì đều do quan nước Pháp phân xử.
+++ Điều khoản XI: Nước Đại Nam từ giáp tỉnh Biên Hoà đến giáp tỉnh Ninh Bình, thì quan bố chánh chiểu thu thuế lệ về cho triều đình nước Đại Nam như cũ, không có quan Pháp kiểm cố tới đó. Đến như địa hạt Bắc Kì thì các quan công sứ hợp với quan bố chính, tóm các thuế lệ mỗi tỉnh một xứ, khiến cho tiện việc kiểm cố, biết được số sở thu và sở chi. Khi thu xong, quan nước Đại Pháp và quan nước Đại Nam hội đồng chuẩn định sự chi phí các nơi và các số công nhu tiền kẽm bao nhiêu, số chi còn bao nhiêu, quy nộp vào kho ở kinh của triều đình Đại Nam.
+++ Điều khoản XII: Các sở thương chính ở trong nước Đại Nam, [Pháp] lại muốn bàn định giao hết cho quan Đại Pháp chuyên biện. Những sở thương chính có nên xây dựng thì chỉ ở những nơi ven biển và biên giới mà thôi. Lấy [:căn cứ vào] các sở thương chính trước, quan võ nước Pháp đã làm như thế nào, nước Đại Nam ngày nay cũng nên thôi bàn. Đến như điều lệ các sở thương chính và các lệ thuế ngoại ngạch, kịp các khoản lệ cấm các thuyền không được vào ra cửa biển trong khi có dịch khí, thì trong nước Đại Nam và các sở Bắc Kì cũng y như điều lệ sáu tỉnh Nam Kì.
+++ Điều khoản XIII: Trong địa hạt Bắc Kì, nước Đại Nam và những người Pháp mở buôn ở các sở và những người được nước Pháp bảo trợ, đều được đi lại buôn bán, mua đất dựng cửa hàng, thung dung tự tiện. Lại khoản các giám mục, linh mục giảng giáo cho giáo dân đã ước định ở ngày 15 tháng 03 năm 1874, tức ngày 27 tháng 01 năm Tự Đức thứ 27 (khoản thứ chín [IX]), nay hoàng đế nước Đại Nam cũng phê chuẩn y như khoản ấy.
+++ Điều khoản XIV: Như người nước ngoài muốn đi trong nước Đại Nam có công việc gì, thì phải xin giấy thông hành ở quan khâm sứ tại kinh, hay quan tổng thống Gia Định, đến trình quan nước Đại Nam [để được] phê chữ, đóng ấn vào hai chữ “dĩ trình” mới có thể đi được.
+++ Điều khoản XV: Nước Đại Pháp tự hứa rằng, từ sau đi, xin giúp đại hoàng đế nước Đại Nam hoàn toàn tốt đẹp và trong nước khỏi phải giặc cướp trong ngoài. Do đó mà nước Đại Pháp chiểu cho là ở trong nước Đại Nam, hoặc Bắc Kì hay nơi nào cần kíp, có nên đóng quân thì được dùng quân đóng để bảo trợ.
+++ Điều khoản XVI: Đại hoàng đế nước Đại Nam cai trị trong nước, trừ ra những điều đã định ở trong hoà ước, [thì] ngoài [ra] còn đều theo như cũ.
+++ Điều khoản XVII: Nước Đại Nam còn thiếu số bạc của nước pháp (tức món nợ Y Pha Nho) sau sẽ bàn định tính giả [:trả]. Nước Đại Nam đừng đi vay mượn nước ngoài. Nếu nước Pháp không đồng ý, thì nước Đại Nam không được vay nước ngoài.
+++ Điều khoản XVIII: Sau khi quan của hai nước hội đồng chia định giới hạn các nơi mở buôn, và việc nhường đất cho người mở bến buôn, trong đó có bàn dựng [các] cây đèn pha ở nước Đại Nam, từ ven biển Biên Hoà đến giáp Ninh Bình cùng địa hạt Bắc Kì, và định thuế khai các mỏ, lệ dùng tiền bạc, [thì lại] hội đồng định chia các sở thương chính và những lợi tạp thuế và thuế điện báo, và chia các khoản thuế chưa cho liệt vào khoản thứ mười một [XI], trích giao cho nước Đại Nam dùng. Điều ước ấy đệ về, đưa tới triều đình Đại Pháp và tiến lên đại hoàng đế nước Đại Nam phê chuẩn, tuỳ tức trao đổi.
+++Điều khoản XIX: Tờ ước này thay thế cho các tờ ước kí ngày 23 tháng 11, ngày 30 tháng 08 và ngày 15 tháng 03 năm 1874. Khi nào hai bên như có thay đổi ý kiến gì ở trong tờ ước đó thì cứ lấy bản chữ Pháp làm chính. Toàn quyền đại thần hai bên đã kí tên đóng ấn ở tờ ước ấy làm bằng. Tờ ước ấy đã lập ở kinh vào ngày 13 tháng 05 năm Kiến Phúc thứ nhất, tức là ngày 06.06.1884.

Dự thương: Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường,
Toàn quyền đại thần: Phạm Thận Duật,
Phó toàn quyền đại thần: Tôn Thất Phiên [:Phan],
đều đã kí tên đóng ấn” (94)
.

Khi đã bàn định trên cơ sở dạng bản “hoà” ước mười chín khoản, Pháp đã soạn sẵn với ý đồ áp đặt, xem ra hai bên cũng tạm đồng thuận, tên khâm sứ đương chức Parreau nói:
- “Cái ấn cũ nhà Thanh phong cho nước Đại Nam, chỉ có khi nào gửi quốc thư sang nước Thanh thì mới dùng, còn dư không cần [thiết] chi cả. Nay nước Đại Nam đã nhận nước Pháp bảo trợ, không làm phiên phục nước Thanh nữa, thì cái ấn nhà Thanh ấy nên lấy ngày trao đổi lại để trả nước ấy” (96) .
Toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật hơi bất ngờ. Ông nhìn sang phó toàn quyền đại thần Tôn Thất Phan, thấy ông ấy chỉ lắc đầu, không nói gì cả.
- Vấn đề phiên phục nước Thanh như thế nào, chúng tôi thấy không bàn cãi ở đây nữa. Các ông đã quá rõ là trước đây, đối với nhà Thanh, nước Đại Nam vẫn hoàn toàn tự chủ, hoàn toàn độc lập, nhưng phải giữ “lễ nghi ngoại giao” với nước lớn là nước Thanh. Chỉ như thế thôi. Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường đã nói với các ông rất nhiều lần và rất rõ ràng, minh bạch từ mười một năm trước. – Quan họ Phạm lại tiếp lời –. Nói cụ thể hơn, cái ấn ấy chỉ là sự công chứng tính chính thống của triều Nguyễn về mặt ngoại giao ở châu lục và trong quan hệ với các nước trên khắp thế giới mà thôi.
- Nhưng từ nay nước Pháp đã thay chỗ của nhà Thanh. Xin xem lại “hoà” ước mới ráo mực! – Patenôtre nói –. Chúng tôi không nói “bảo trợ” (hay phiên phục) với mức độ nào! “Bảo trợ” (hay phiên phục) với mức độ nào thì cũng là “bảo trợ” (hay phiên phục)!
- “Bảo trợ” khác với “phiên phục”! Hai chữ “bảo trợ” hoặc hai chữ “bảo hộ” tạm thời bị quy định ý nghĩa của nó, vốn rất khác với nguyên nghĩa. Chúng tôi không bàn nữa. Còn hai chữ “phiên phục” có nghĩa là nước láng giềng bên ngoài biên giới thuận theo quan hệ tốt đẹp, không chống lại hoặc mưu toan đánh chiếm. Nước Đại Nam là láng giềng lãnh thổ nhỏ hơn, ít dân hơn Trung Hoa, không chống Trung Hoa, không đánh chiếm Trung Hoa, và nước Trung Hoa tự xưng là “thiên triều” lại có nghĩa vụ bảo vệ nước phiên phục nếu nước phiên phục ấy bị nước nào đó đánh chiếm, làm sức ép. Chỉ thế thôi. – Quan phó toàn quyền Tôn Thất Phan nói tiếp, không muốn để các tên Pháp tiếp tục kéo dài vấn đề ấy –. Tôi thấy cuộc nghị bàn sáng nay nên ngừng lại. Chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và triều thần, Tôn nhân phủ đã, rồi sẽ bàn định tiếp.
Cuộc họp ngừng lại. Phái đoàn ta ra về, trên chiếc thuyền trang trí rất đẹp chèo ngang sông Hương.
Khi gặp quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, hai quan họ Phạm và họ Tôn Thất trình bày lại yêu sách ngang ngược của phái đoàn Pháp.
- Chúng nó lâu nay vẫn muốn nước ta đoạn tuyệt hẳn với nước Trung Hoa về ngoại giao. Việc đòi lấy chiếc ấn “An Nam quốc vương” ấy còn là một cách để bọn Pháp khoe với các nước về bằng chứng xác lập quyền “bảo hộ” độc quyền của chúng trên nước ta. – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường nói từ tốn nhưng rắn giọng –. Chúng ta dứt khoát không chịu trao ấn “An Nam quốc vương” để chúng làm bằng chứng như thế. Vả lại, khi chúng “bảo hộ” độc quyền thì nước Thanh không có cớ gì giúp ta được nữa! Thêm vào đó, chúng một khi đã “bảo hộ” độc quyền, thì biết đâu, chúng lại làm sức ép với triều Nguyễn bằng cách thức cũ, là chúng sẽ doạ phong vương cho hậu duệ nhà Lê hoặc bất kì họ nào! Nước ta nhỏ, yếu, bị bại trận liên tiếp, nên chịu lép quá nhiều, thật đau đớn!… Nhưng… Nói tóm lại, với bốn lẽ trên, không đời nào chúng ta chịu trao ấn “An Nam quốc vương”cho bọn Pháp, dẫu có ra sao thì ra… – Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường nói hơi chậm lại –. Chúng ta còn có trách nhiệm với di chiếu, di chúc của tiên đế. Đức vua Kiến Phúc còn trẻ… Hai vị nên hỏi xin thêm ý kiến của các vị ở Thế miếu, ở Điện Hoà khiêm tại Khiêm lăng và ý kiến quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết… Còn với tư cách quan đệ nhất phụ chính, tôi không đồng ý, dứt khoát không đồng ý trao ấn “An Nam quốc vương” cho bọn Pháp.
Lần thứ hai, hai quan chánh phó toàn quyền đại thần gặp quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, quan họ Phạm nói:
- Bọn Pháp đe doạ sẽ dùng biện pháp quân sự! Parreau nói, “không thì viên ấy [Patenôtre…] giao cho quan võ chiểu biện [tức là sẽ dùng vũ lực tấn công], và châm chước các lẽ ở trong tờ ước cũng đình [hoãn], [xin vua] chuẩn cho kính cáo” (96) !
- Ý của các vị tại Thế miếu (đại diện hoàng tộc) và tại Điện Hoà khiêm (hoàng thái hậu Vũ thị) thế nào?
- Các vị xin tuỳ các quan phụ chính và triều thần!
- Ý của quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết có thay đổi gì không?
- Quan Tôn Thất Thuyết vẫn bảo ông ấy là quan võ, “võ tướng chỉ biết có đánh chớ không biết “hoà”” (97) !
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường ngẫm nghĩ. Một lúc, ông nói với chánh phó toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan:
- Tôi đã tâu với đức vua sau khi bàn với quan Tôn Thất Thuyết, quan Hồng Hưu. Tôi vẫn dứt khoát không đời nào trao ấn ấy cho bọn Pháp. Nguy cơ chúng ủng hộ bọn “phù Lê” rất rõ! Tôi quyết định, “bảo [chúng] không thôi, thì phá đi, để [ta] lại đúc cái khác mà thôi” (96) . Lấy ống bễ thợ kim hoàn, thợ rèn, thổi cho tan thành nước, cho đông lại một thỏi bạc, ngay tại chỗ hoà nghị! Kiên quyết không trao cho bọn Pháp cái ấn ấy. Tôi nói lại, tôi quyết định, “bảo [chúng] không thôi, thì phá đi, để [ta] lại đúc cái khác mà thôi” .
Nhà vua trẻ Kiến Phúc, quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết, phụ chính thân đại thần Hồng Hưu và các vị hoàng thân ở Thế miếu, hoàng thái hậu ở Điện Hoà khiêm đều đồng ý như thế (96). Tất nhiên chiếc ấn được áp vào nhiều bản giấy để lưu mẫu. Triều đình cũng đồng ý trao cho Pháp một bản mẫu để đem về nước (96)!
Sau hai, ba lần bàn thảo, cuối cùng Pháp cũng đành phải thuận theo ý kiến của quan phụ chính Nguyễn Văn Tường (96)! Chiếc ấn “An Nam quốc vương” đã bị ống bễ lửa thổi tan thành nước, rồi đông lại thành một thỏi bạc khá lớn, ngay tại phía trước, gần chiếc bàn “hoà” nghị ở Sứ quán Pháp (96)! Hôm cuối cùng ấy, có cả quan đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường. Sau đó là lễ kí tên vào bản “hoà” ước Giáp thân (1884). Ông cảm thấy thật đau đớn khi phải cầm bút kí tên, áp ấn triện của mình vào bản “hoà” ước quá nhiều thua thiệt và tủi hận ấy.
Hôm ấy sắp vào ngày chính giữa mùa hạ, nắng ở Huế như muốn nổi lửa và tiếng ve nghe vui tai bỗng trở nên đau buồn hơn bao giờ hết.
Dẫu sao, đối với phía Đại Nam, trong thời điểm bấy giờ, “hoà” ước Giáp thân (1884) cũng là một thắng lợi, nếu so với “hoà” ước Quý mùi (1883)! Tất nhiên, một khi Đất nước bị giặc xâm lược, chúng lại mạnh hơn, buộc Đất nước bị chiến bại vào thế phải kí “hoà” ước, thì “hoà” ước nào cũng phải chịu ít hoặc nhiều thua thiệt, cay đắng, nhục nhã!
Khi quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và phái đoàn ta ra về, Patenôtre, Rheinart, Parreau mới thật sự hiểu ra, cơ chừng bản “hoà” ước mới kí kết ấy không có giá trị gì hết, mà chỉ là một sự phủ nhận “hoà” ước Quý mùi (1883)! Cả ba tên thực dân Pháp điên tiết muốn chửi đổng lên!
Hôm sau, theo thông lệ, Nha Thương bạc nhận được tặng phẩm ngoại giao của phái đoàn Pháp. Tất nhiên, Nha Thương bạc cũng chuyển tặng những phẩm vật ngoại giao của triều đình nước ta đến phái đoàn Pháp và tổng thống toàn quốc Pháp theo thông lệ ấy. Khi mở những tặng phẩm của Pháp, mọi người đều kinh ngạc và hiểu ra bọn Pháp căm hận quan phụ chính Nguyễn Văn Tường như thế nào! Ngoài những tặng phẩm cung tiến lên vua Kiến Phúc, các quan thấy:
“… Hồng Hưu: một bộ chén nậm bằng pha lê, ba tấm lụa, một chiếc áo mưa, một chiếc mục kỉnh bằng vàng, tám chai rượu Ma La Gà (?), tám chai rượu Mác Ten (Martel); Nguyễn Văn Tường: một thùng đạn máy (98); Tôn Thất Thuyết: một bộ nậm chén uống rượu bằng pha lê, gương soi, áo mưa, mâm đựng rượu (đều như trước [:trên]); Phạm Thận Duật: mục kỉnh bạc hai chiếc, vũ đoạn một tấm, áo mưa hai chiếc, rượu Ma Chi (?) sáu chai, rượu Ma La Gà sáu chai; Tôn Thất Phan và Chu Đình Kế: mục kỉnh bằng bạc một chiếc, vũ đoạn một tấm, áo mưa hai chiếc, rượu Ma Chi một chai, rượu Ma La Gà hai chai, gương…; [Tôn Thất] Lương Thành: áo vũ đoạn (như trước [:trên]), rượu Ma Chi hai chai, rượu Ma La Gà hai chai; Lê Thận (hiệp lí thuỷ sư): gương, vũ đoạn, áo mưa (như trước [:trên]), rượu Ma La Gà sáu chai…” (98) .
Ngoài ra, còn bốn mươi hai và hai mươi tư viên quan lính khác được nhận tặng phẩm ngoại giao!
Có người vẫn bảo, bọn Pháp biết tính cách quan phụ chính Nguyễn Văn Tường là không thích dùng rượu cùng những đồ vật xa xỉ (98)!
Cũng từ ngày đó, Rheinart ở lại Huế, thay Parreau, làm khâm sứ thêm một lần nữa. Từ độ ấy, không như trước, người ta thấy Rheinart không giấu giếm lòng thù hận đối với quan đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường! Trước đây, dẫu sao y còn nuốt hận vào lòng. Nay y nói thẳng với những nhân viên trong Sứ quán và một vài quan ở Nha Thương bạc về lòng căm hận đó!
Tôn Thất Phan từ nay cũng nhận thêm chức trách quản lí Thương bạc sự vụ đại thần (99). Phạm Thận Duật được nhận thêm nhiệm vụ kiểm duyệt bộ sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” do tập thể các nhà làm sử ở Quốc sử quán đã biên soạn (99).

13

Những ngày cuối tháng năm Giáp thân (1884), lãnh sự Pháp lại đến cửa biển Thi Nại tỉnh Bình Định, để lại cùng các quan ta thu thuế thương chính (100)! Chúng không hề biết mắc cỡ lúc trắng trợn bóc lột, nhất là sau khi chỉ vì lòng dạ tham lam của chúng ngày càng thêm, chỉ bởi những áp lực đánh đấm tàn bạo và ác độc của chúng ở Bắc Kì, dẫn đến sự “sứt mẻ” trong quan hệ “ngoại giao”, trong những tháng ngày qua! Nhưng, nói thế cũng là xuất phát từ ý nghĩ cho rằng bọn thực dân Pháp còn biết xấu hổ, và cái được gọi là quan hệ “ngoại giao” của chúng còn có chút chân tình! Thật ra, mục đích đầu tiên cũng là cuối cùng của chúng chỉ là xâm lược, bóc lột, lúc có chiêu bài hay khi vứt bỏ chiêu bài thì cũng đều trắng trợn như thế!
Cho đến nay, Pháp mới trao trả cho triều đình quản lí kho đúc tiền ở Hà Nội (101)!
Tháng năm nhuận Giáp thân (1884) lại tới.
Dẫu tình hình khó khăn, kì thi hội năm nay vẫn được tổ chức (102). Thượng thư Phạm Thận Duật nhận chức trách giám khảo cùng với Nguyễn Thuật, Vũ Nhữ [:Nhự]. Bộ Hộ của ông cũng đã đổi thành Bộ Hội vì kiêng huý (trường hợp gần đồng âm: [Ưng] Hỗ # Hộ). Vả lại, về mặt chiết tự chữ Hán và về ngữ nghĩa, chữ Hội (tụ họp [thị trường, kinh tế xã hội]) hay hơn, phù hợp với mức độ phát triển của thời đại hơn chữ Hộ (cái cửa [gia đình, kinh tế tự cung tự cấp]) (102).
Một vài công việc bình thường nhưng rất thiết yếu như thế vẫn diễn ra, trong khi đó, tình hình chiến tranh Trung – Pháp vẫn không phải đã chấm dứt. Chính thái độ kiên quyết không chịu đoạn tuyệt với nhà Thanh của thượng thư Nguyễn Văn Tường, thể hiện trong việc không chịu trao ấn “An Nam quốc vương” cho Pháp, là một trong những nguyên nhân chính tác động cho cuộc chiến tranh Trung – Pháp thêm dữ dội. Và lần này, không chỉ diễn ra trong lãnh thổ nước ta! Nếu lòng dạ nhà Thanh thật ra là cùng Pháp xâu xé nước ta chứ không phải giúp ta với cái tâm trong sáng, thì nói cách khác đi, đó cũng là một cách để thúc đẩy thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu”.
Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đã cùng triều đình biết tin nhà Thanh đã nghị xử bằng quân luật các quan tướng Thanh bị thất trận tại Bắc Kì nước ta (103). Trong khi đó, cuộc chiến vẫn tiếp tục, mặc dù tạm tước Fournier – Lý Hồng Chương đã được kí kết tại Thiên Tân ngày mười tám tháng tư Giáp thân (17.05.1884): sự kiện cầu Quan Âm bùng nổ (104)!
Mặc dù quân Thanh có lệnh dụ không được đánh trước vì đang nghị hoà ở Thiên Tân. Nhưng đấy là lệnh dụ… Trong thực tế chiến trường, quan quân binh dõng Đại Nam vẫn đem quân đến Lạng Sơn, đệ gửi các tập tâu về triều đình tại kinh đô Huế, với lời xin “hoặc sung ứng tiếp, hoặc sung điều khiển, đều lệ thuộc vào quân Thanh” (104) , nghĩa là được mượn danh nghĩa quân Thanh để giữ đất. Đó là quân của tuần phủ Lạng Sơn Lã Xuân Oai, tán tương Đông thứ Nguyễn Thiện Thuật, đề đốc Tạ Hiện, ngự sử Phạm Huy Quang và mười tám viên quan khác vốn thuộc tỉnh Hải Dương, cộng với số quân Thanh đến mười bảy doanh do thự đề đốc Quảng Tây Tô Nguyên Chương thống lãnh…
Đến canh tư (01 – 03 giờ khuya về sáng), ngày mùng hai tháng năm nhuận, Giáp thân (24.06.1884), hơn bảy, tám trăm (700 – 800) quân Pháp dưới sự chỉ huy của trung tá Dugenne, tiến quân ngang tàng qua sông Hoá (còn gọi là sông Qua Hoá, một nhánh của sông Thương), cách cầu Quan Âm khoảng tám, chín dặm (425 m, mỗi dặm ta) (104). Chúng bắt đầu nổ súng. Quân ta và quân Thanh đua sức, phối hợp chiến đấu quyết liệt. Trận chiến diễn ra đến giờ thân (15 – 17 giờ) mới tạm ngớt tiếng súng. Quân ta và quân Thanh chiến thắng, “được trận, bắt được một tên quan tư, hai tên quan hai, hai mươi người lính, hơn một trăm (100) lính ma tà, và bắt được áo, mũ, lừa, ngựa rất nhiều; và [quân Pháp] chết đuối ở sông Hoá Giang không biết đâu mà kể. Quân Pháp lui giữ Bắc Lệ” (104) .
Ngày mùng bảy tháng năm nhuận, Giáp thân (29.06.1884), tri huyện Hữu Lũng Hoàng Đình Kinh, được nhà Thanh cấp bằng tán tương quân vụ, “và những viên nhân thuộc vào quân ngạch [:quân chính quy], đốc [thúc] quân nghĩa dũng [:lực lượng dân quân, hương binh khởi nghĩa, quyết chiến đấu], đánh lấy lại Bắc Lệ” (104) . Đó cũng là một trận thắng của quân dân ta! Trong trận thắng này, bắt được một quan hai, một quan một và chém được sáu, bảy chiếc đầu của quân giặc Pháp (104).
Bốn ngày sau, ngày mười một (03.07.1884), quân nghĩa dũng nước ta được lệnh tri huyện Hoàng Đình Kinh, tiến quân chặn giặc ở núi Thiên Cần (104). Cuộc chiến đấu quyết liệt đưa đến kết quả: năm mươi (50) tên giặc bị bắn hoặc bị chém bằng vũ khí thô sơ, tự tạo. Quân Pháp do đó phải lui về chốt giữ ở phía dưới nhà trạm Bắc Cần khoảng mười dặm (104). Dân quân, hương binh vốn rất anh dũng, khởi nghĩa kháng chiến chống Pháp, mặc dù dưới ngọn cờ nhà Thanh, nhưng vẫn lập được chiến công rất đáng kể.
Tên thống tướng Millot hay tin quân Pháp đại bại ở Bắc Lệ, lập tức ra lệnh cho thiếu tướng De Négrier đem hai đại đội quân đánh bộ và hai đội pháo binh cùng một toán công binh tiến theo đường Phủ Lạng Thương, hành quân đến làng Kép (Bắc Cần). Sau đó, phối hợp với quân của Dugenne (105).
Quân Pháp vẫn cầm cự trong khi chờ viện binh từ Pháp sang.
Ngay giữa tháng năm nhuận Giáp thân (1884), sau khi nghe tin chiến thắng của quân nghĩa dũng và quân Thanh tại biên giới phía bắc, nhân dân Quảng Trị được nhìn thấy một trận mưa đá trong cơn bão lớn (106). Những thi sĩ ở đất này gọi đó là trận mưa “trời vãi ngọc”. Ngọc là những hạt mưa đông lạnh, trong sáng, chói ngời như kim cương, thạch anh.
Ở thượng du Bắc Kì, dẫu vậy, vẫn còn có những đám thổ phỉ, thảo khấu nguyên là giặc Cờ được vỗ yên năm nào, nay chúng lại nổi dậy. “Tình thế càng ngày càng lao lướt, quan tỉnh [lẩn tránh] chưa về hết” (107) phần lớn do bọn lục lâm thảo khấu này…
Bấy giờ, tên quan thượng thư Pháp Parreau đang ở Bắc Kì. Còn Nguyễn Hữu Độ? Y đã bộc lộ sự dựa dẫm vào bọn Pháp để vượt quyền bổ nhiệm quan chức… Không những Nguyễn Hữu Độ, còn có Nguyễn Trọng Hợp. Nguyễn Trọng Hợp từ lâu ngã dần và rồi ngã hẳn về phía thân Pháp, được lòng tướng giặc Millot!
“Khởi phục cho Nguyễn Trọng Hợp làm hồng lô tự thiếu khanh, quyền thự lí tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên. Tướng Pháp [Millot] gửi thư xin sung, nên có mệnh này!” (108) .
Tên công sứ Pháp ở Hải Dương lại bàn việc, xin trích sáu trăm tên lính tỉnh giao cho y chi cấp lương tiền và huấn luyện! Lãnh tổng đốc Hà Văn Quan tâu về kinh.
“Viện thần [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật] tâu [lên vua Kiến Phúc], nói: “Quân ta mà chịu quân Pháp trả lương thì rồi sau đây sai phái, họ chịu để cho ta dùng chăng? Nên bàn nói lại. Nếu [Pháp] có ý tốt, thì sai quan đến hội đồng [với quan ta] rèn tập, lương tháng do ta chiểu cấp là hơn”. [Vua] chuẩn như lời tâu dể để bàn [với Pháp]” (109) .
Rõ ràng, ngoài việc chấn chỉnh lực lượng quân binh, tăng cường vũ trang, xây dựng Tân Sở và mở thượng đạo xuyên Trường Sơn ra đến Việt Bắc với hệ thống sơn phòng, triều đình bị tình thế đặt vào tình huống là phải một mặt, ủng hộ lực lượng khởi nghĩa chống Pháp, cho dù dưới ngọn cờ quân Thanh, một mặt khác, vẫn phải vừa “thoả hiệp” vừa đấu tranh với thực dân Pháp! Một tình huống lịch sử rất khó khăn, phức tạp! Thực dân Pháp không phải không biết điều đó. Chúng nhìn nhận theo quan điểm địch – ta rất rõ ràng của chúng:
“Những toán địch [(nghĩa quân)] tới hoạt động ngay ở các xã dưới họng đại bác của thành quách chúng ta [Pháp], và các đồn binh phải luôn luôn xuất trận với sự cộng tác của pháo thuyền” (110) .
“Chúng ta [Pháp] sẽ không nói đến những cuộc hành quân phụ thuộc ở các vùng của miền trung châu chống những toán thổ phỉ [(nghĩa quân)] và dư đảng của Cờ đen, những toán này được sự ủng hộ bí mật của triều đình Huế, làm cho chúng ta [Pháp] phải luôn luôn lo lắng.
Các cuộc hành quân này rất là mệt nhọc cho quân đội của ta [Pháp]” (110)
.
Thật ra, tiếc thay, yêu nước, chống Pháp, nhưng chiến đấu dưới ngọn cờ quân Thanh, vẫn không phải không tổn hại đến quốc thể và tất nhiên không được quần chúng ủng hộ, hưởng ứng nhiều! Trong thời buổi khó khăn, phức tạp và có thể nói là vàng thau lẫn lộn ấy, để hưởng ứng, ủng hộ hay phê phán, tuần dẹp, người dân và triều đình sáng suốt phải căn cứ vào hành tung (quá trình hoạt động với tính chất, ý nghĩa, mục đích của quá trình hoạt động đó) để xác định lực lượng, cá nhân nào là thật sự yêu nước, chống Pháp, đánh Pháp với lực lượng, cá nhân đích thực nào là thổ phỉ (giặc Cờ vàng, Cờ trắng, một ít Cờ đen không hướng thiện; Hán gian; giặc trốn nước Thanh vốn là bọn đầu trộm đuôi cướp; “tả đạo”(vô lại); “phù Lê” vốn được vỗ yên, lâu nay cho làm ăn sinh sống, đã ngóc đầu dậy; và bọn thừa cơ nước đục thả câu để giết người, cướp bóc, vơ vét tiền bạc, tài sản của nhân dân và của các công sở thuộc triều đình…). Ngay tại Hà Nội, ở Mỹ Đức chẳng hạn, một tháng sau, vào tháng bảy nguyệt lịch, Cao Xuân Dục và Hoàng Cao Khải phối hợp với Pháp để tiễu trừ các đám “giặc cướp” loại đích thực là cướp (111). Pháp cũng muốn ổn định trật tự, trị an; triều đình tất nhiên cũng muốn “trừ dứt mầm ác, cho yên địa phương” (111) . Đối với bọn giặc cướp đích thực là cướp, thực dân Pháp lúc này cũng muốn tiêu diệt!
Đầu tháng sáu nguyệt lịch, bản dụ với sách lược vừa “thoả hiệp” vừa đấu tranh với bọn xâm lược Pháp được ban bố:
“Dụ sai các tỉnh Bắc Kì: Tự nay phàm các công sứ [Pháp] đóng ở tỉnh như có tư báo khoản gì quan trọng ấy, thì do tỉnh ấy giữ theo điều ước (khoản thứ sáu [VI] nói: “chánh, phó công sứ nước Pháp đều theo lệnh khâm sứ ở kinh”). [Theo đó, các quan ta ở các tỉnh phải] bàn bạc [với công sứ Pháp] rồi tư về quan khâm sứ [ở Huế], cùng Viện – Bạc phúc y, rồi mới tuân làm. Đến như việc do ở tỉnh khác, khoản khác mà tư vắn tắt ấy [:tư tắt, không theo hệ thống, quy trình như thế], tức thì bác [bỏ], khước [từ], không được suất nhận, [kẻo] tự mắc lỗi” (112) .
Trong khi đó cuộc chiến tranh Trung – Pháp bên ngoài lãnh thổ nước ta đã bùng nổ! Thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” đang khiến Pháp phải đổ máu không ít trên sông biển Trung Hoa! Và dẫu sao, máu quân Thanh đánh Pháp cũng sáng tươi sông biển Phúc Châu, Đài Loan nước họ! Phải chăng là thế?
Sau khi trận chiến tại cầu Quan Âm và Bắc Lệ (thuộc Lạng Sơn) diễn ra, tại Paris, tên tổng thống Pháp Ferry đã điện cho Lý Hồng Chương một điện văn thách thức:
“Chúng tôi đã kí một hiệp ước nghiêm túc. Mực mới ráo thì hiệp ước bị vi phạm. Chính phủ Thiên triều [nhà Thanh Trung Hoa] phải chịu trách nhiệm [một cách] kinh khủng. Đô đốc Courbet [đang] dẫn hai sư đoàn chiến hạm lên phía bắc” (113) .
Courbet, với quân hàm trung tướng hải quân Pháp, thật sự đã chỉ huy tàu chiến sang biển Trung Hoa, neo lại gần thành Phúc Châu, tỉnh lị của Phúc Kiến (113). Chính phủ Pháp gồm những tên thực dân ở vị trí chóp bu, do Ferry làm đầu nậu, cũng đã ra lệnh cho Patenôtre (tên công sứ Pháp tại Bắc Kinh vừa từ kinh đô Huế nước ta trở lại nhiệm sở), phải nhận lãnh nhiệm vụ yêu sách Trung Hoa phải bồi thường hai trăm rưỡi triệu (250.000.000 franÇ) tiền binh phí, chiến phí do chiến tranh Pháp – Hoa tại Bắc Kì của Đại Nam (113). Vụ mặc cả bẩn thỉu này do Mỹ Lợi Kiên (USA.) làm trung gian vì quyền lợi buôn bán của các đế quốc thực dân da trắng (113)! Tất nhiên Lý Hồng Chương không chịu cái gọi là tiền “bồi thường”. Mức đòi tiền “bồi thường” một cách ngược ngạo được Pháp hạ xuống vào ngày đưa tối hậu thư, hai mươi chín tháng sáu Giáp thân (1884): Tám mươi triệu (80.000.000 franÇ), trả trong mười năm (113)! Tất nhiên, không ai lại chấp nhận một cách nhục nhã như thế. Vả lại, triều đình Đại Nam và quan phụ chính Nguyễn Văn Tường cũng không chịu giao ấn “An Nam quốc vương” cho Pháp với câu nói của ông: “bảo [bọn Pháp] không thôi, thì phá đi, để [ta] lại đúc cái khác mà thôi” (96) . Quan hệ Trung Hoa – Đại Nam trong trường hợp này còn là sỉ diện của nhà Thanh “thiên triều”! Do đó, nhà Thanh và Lý Hồng Chương chiến tranh với Pháp cứ việc nổ ra (113).
Ngày rằm tháng sáu Giáp thân (05.08.1884), hải quân Pháp bắn phá pháo đài Cơ Long (thuộc Đài Loan) (113). Quân đánh bộ từ hạm đội tràn vào đảo, bị phản công mạnh mẽ bởi quân của Lưu Minh Truyền. Quân Pháp phải rút xuống tàu. Tên Ferry tuyên bố thắng trận hoá ra lại thất bại nhục nhã (113)!
Ngày mùng ba tháng bảy Giáp thân (1884), Courbet được lệnh tấn công Phúc Châu (113). Các pháo đài, cơ xưởng đóng tàu đúc súng của Trung Hoa ở Phúc Châu, tàu thuyền Trung Hoa trên sông Mân Giang (Min) đều bị hạm đội hải quân Pháp bắn phá. Bắn phá xong, Courbet cho hạm đội rút ngay, khiến quân Thanh trên đất Thanh không kịp tổ chức phản công và phục kích hai bên bờ sông Mân (Min) (113).
Courbet liền cho hạm đội hải quân thuộc quyền chạy ra vây đảo Đài Loan. Lần này, sau ba ngày chạm súng, Pháp chiếm được ngoại vi Cơ Long (tại Đài Loan) vào ngày mười ba tháng tám Giáp thân (01.10.1884), nhưng lại thua trận ở phía tây đảo (vùng Tam Thuỷ). Cuộc phong toả ngoài khơi Đài Loan của hải quân Pháp dài đến ba tháng (113)!
Sau đó, quân Pháp vây bủa cả cửa sông Trường Giang thuộc nước Thanh (113).
Vào lúc ấy, Pháp – Trung Hoa vẫn đang mặc cả với nhau qua môi giới Mỹ về nhiều điều khoản, trong đó có một khoản là nếu Pháp cứ chiếm giữ Cơ Long, Tam Thuỷ thuộc Đài Loan, thì Trung Hoa vẫn chiếm giữ Lạng Sơn, Lao Kay của Đại Nam ta, hoặc hạ đường biên giới Việt – Hoa xuống tận phía dưới Lạng Sơn (113), theo một đường gạch từ Diến Điện (Myanmar) đến biển Đông, và triều đình Đại Nam vẫn tiếp tục triều cống Trung Hoa theo tôn ti trật tự bất bình đẳng về dân tộc lớn, dân tộc bé, nước lớn, nước bé thời cổ – trung đại (113)!
Hải quân xâm lược Pháp cứ vây bủa Đài Loan và các cửa bể Trung Hoa nhà Thanh cho đến tháng sáu Ất dậu (07.1885) (113), tức vào khoảng gần hai tháng sau khi thêm một lần nữa Pháp – Hoa lại kí kết hiệp ước tại Thiên Tân, ngày hai mươi bảy tháng tư Ất dậu (09.06.1885). Ngày kí hiệp ước ấy cũng là ngày tên trung tướng thực dân Courbet bị bệnh hoạn làm chấm dứt cuộc đời của y, tại một nơi gần đảo Đài Loan (114).
Thật ra, sau sự kiện ngoại giao tại Huế, tạm gọi là sự kiện “chiếc ấn bạc “An Nam quốc vương”” , và sau sự kiện “cầu Quan Âm, Bắc Lệ” , chiến tranh Pháp – Hoa không chỉ nổ ra ở Phúc Châu, Đài Loan, kể cả việc Pháp phong toả sông Trường Giang thuộc Trung Hoa. Cuộc chiến Pháp – Hoa ấy còn tiếp tục diễn ra, từ tháng bảy Giáp thân (1884) đến thời điểm ít ra là tháng hai Ất dậu (1885), trên lãnh thổ nước ta, ở Chu, Kép thuộc xứ Bắc Giang tỉnh Bắc Ninh và tại Lạng Sơn, Tuyên Quang…
Trên nhiều nguyên nhân, nguyên cớ xa và gần, của Pháp lẫn của nhà Thanh Trung Hoa, có một sự kiện đã tác động mạnh đến cuộc chiến Pháp – Hoa suốt gần một năm trời trên đất, trên biển Trung Hoa, và trên lãnh thổ Đại Nam, đó chính là việc quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và triều đình Huế không chịu giao chiếc ấn bạc “An Nam quốc vương” cho phía phái đoàn Pháp (để chúng chuyển về chính phủ thực dân Pháp), với câu nói của ông: “bảo [bọn Pháp] không thôi, thì phá đi, để [ta] lại đúc cái khác mà thôi” (96) .
Nhưng đó là chuyện về sau…
Lúc này, đang là tháng sáu Giáp thân (1884)…

14

Tháng sáu Giáp thân, năm Kiến Phúc thứ nhất (1884), theo nguyên tắc, không cách nào khác, để giữ kỉ cương và quân luật, triều đình phải nghị xử “các quan thất thủ ở quân thứ các tỉnh Sơn, Bắc, Hưng, Tuyên, Thái, Đông [Hải Dương] [phải bị] giáng chức, cách chức [hoặc] được miễn nghị có sai [biệt], [phân] bậc” (115):
“Trước đây, đình thần tâu lên, đã qua phụ chính [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] duyệt y, [vua Kiến Phúc] chuẩn như lời phúc đáp [để] thi hành” (115)
.
Trong đó, năm viên quan lớn Hoàng Tá Viêm, Lương Huy Ý (Lương Tư Thứ), Ngô Tất Ninh, Nguyễn Đình Nhuận, Trương Quang Đản tuy đã bị kết án đúng mức, nhưng được gia ân giảm án:
“Duy năm viên ấy, hoặc tuổi cao, làm việc lâu, tình [trạng] cũng đáng thương, hoặc tuổi hơi mạnh khoẻ, có thể mưu đồ ở sau [cho đại cục]…” (115).
“Đó là những ơn đặc biệt, chưa có thể vin đấy mà làm lệ được” (115)
.
Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vẫn phải chấp hành luật pháp, nhất là quân luật, nhưng trong thực tế, vẫn gia ân giảm nhẹ mức án để bảo tồn lực lượng, nhất là những viên tướng, viên quan có năng lực thao lược và có chiến công chống Pháp.
Triều đình còn bình công, cấp tiền tuất và tâu xin chuẩn cho việc di táng trọng thể di hài cố thự tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Văn Thận. Ông vốn bị giặc Pháp bắt, bắn chết. Ông đã chết với một cái chết lẫm liệt, bi tráng, đạt tới mức dũng khí của thánh nhân: “hay hăng hái không chịu khuất, thung dung tới chết” (116).
Một vài việc thuộc hình sự thường phạm cũng được xét xử: vụ thái giám Trần Đạt với tội “trước đây [Trần] Đạt ngầm lấy đồ dùng ở trong nội đình (nồi hộp các thứ), thái hoá các hạng (dầu, lụa, vân vân) đem về nhà dùng riêng” (117) ; vụ Hữu quân kiêm quản thái giám Hồ Văn Hiển: “(nguyên xử cách li)” [hẳn là bị liên đới trách nhiệm?] (117) … Cả hai vụ đều được quan phụ chính phúc duyệt, gia ân (117). Trần Đạt phải ra sơn phòng Quảng Trị để hiệu lực, chịu sai phái; Hồ Văn Hiển được giảm ở mức cách chức nhưng cho lưu dụng (117).
Tháng sáu nguyệt lịch, một bản dụ nữa được ban hành: “Chuẩn cho bớt quan lại, tăng lương bổng” (118).
“… Đặt quan, cốt được người giỏi; hậu lương lộc, cốt để khuyến khích người làm quan… […]… Ôi! Quan lại đặt nhiều, khó bề cầu [mong] trị yên được; bổng lộc ít ỏi, chửa có thể bắt giữ được thanh liêm. Người xưa nói thế, thực đã sâu rõ mối tệ…” (118)
.
Trong bối cảnh khó khăn đến mức gay go, và rất phức tạp, đầy thách thức ấy, mọi việc đang được các quan phụ chính, triều thần ra sức giải quyết, bất ngờ thay, một cái đại tang nữa ập xuống triều đình nước ta: Vua Kiến Phúc băng hà (119)!
“Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hoà, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ. Sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ. Đến ngày mồng bảy tháng này, ngày kỉ mão, [vua] mới ngự Điện Văn minh, chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc. Rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng mười, nhâm ngọ [31.07.1884], bệnh [trở nên nguy] kịch. Giờ ngọ [11 – 12 giờ] hôm ấy, vua mất ở chính tẩm Điện Kiền thành.
Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ thân, đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di chúc rằng:
“Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch có học, có hạnh. Hoàng đế như có mất đi, [hãy] truyền bảo tôn nhân, phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu. Lại đại lễ tiên hoàng đế chưa xong, và lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ, châm chước làm được bốn, năm phần mà thôi, chớ cầu thể lệ” (119).
Bấy giờ, Miên Định công và phụ chính thân, đại thần [Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ, văn võ đình thần bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu. Hoàng thái hậu [Vũ thị] rước công tử Ưng Lịch (là con thứ năm Kiên Thái vương Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà tang xưng là tự quân, phàm việc tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn tôn (đó là vua Hàm Nghi)…” (119)
.
Vua Kiến Phúc mất lúc mười lăm tuổi rưỡi. Tang lễ được cử hành trọng thể theo nghi thức hoàng đế, nhưng vẫn giản dị như di chúc truyền lại.
Hai tháng sau, vào vài ngày đầu tháng tám nguyệt lịch Giáp thân (1884), triều đình và Phủ Tôn nhân làm lễ tấn tôn tên thụy và tên hiệu: Giản tông Nghị hoàng đế (120).
Sắc mệnh viết:
“Kính nghĩ:
Đại hành hoàng đế [cách gọi vua mới mất] anh minh chất tốt, hiếu hữu tinh kiêm. Ngày chửa lên ngôi, người đều mong đợi. Kịp khi kính nối nghiệp lớn, ngửa theo chí xưa, tấc dạ tiếng lo, dựng làm trăm việc. Kính sợ trời trong khi biến chuyển, bắt phép tổ, đốc chí nối noi… […]… Kinh diên ngày ngự, nghiên cầu học thuật đế vương. Sử yếu sửa sang, xem xét việc làm sau trước… […]… Vả lại thời sự đương nhiều gian nan, ngày cùng với phụ chính thân thần và đại thần [viết rút gọn là: phụ chính thân, đại thần], đo đắn cơ nghi, tính kĩ công việc, làm cho ngoại tình thiếp phục [:tình hình bên ngoài ổn định, thuận theo], chuyển nguy làm yên. Chưa kịp một năm mà thiện chính không sao xiết kể! Đương cho là mặt trời mới mọc, thị thính duy tân, không ngờ đám mây che khắp mặt hồ [:vua chết], mọi người gào không kịp nữa! Than ôi, đau thương thay!”…
“Kính nhớ đại hành hoàng đế, lòng chuộng cao xa, đạo theo khiêm tốn. Khi chưa tức vị, tiếng nhân hiếu đồn khắp mọi nơi. Lúc đã lên ngôi, lời ca ngợi hầu vang khắp chốn. Buổi mặt trời mọc, gặp biên [thuỳ, triều] đình đa gian, lo lắng một niềm, sửa sang trăm việc. Đem lòng kính để thờ trời, thì đặt đàn giao tế lễ… […]… Mở kinh duyên [:diên; kinh diên: nơi vua học tập], để tìm xem chính trị dở hay. Chép sử yếu, để xét việc xưa nay suy thịnh…” (120)
.
Theo lệ cổ truyền, triều đình định hạn mặc áo tang cho cả trong ngoài kinh thành (121).

15

Công tử Ưng Lịch là anh em cùng cha khác mẹ của vua Kiến Phúc (122). Mẹ là bà Phan Thị Nhàn (122). Ưng Lịch được chào đời vào ngày bính tí, mười bảy tháng sáu năm Tự Đức thứ hai mươi bốn (1871) (122). Chỉ bảy hôm nữa, kể từ ngày vua Kiến Phúc mất, mới đến sinh nhật thứ mười ba của Ưng Lịch. Nhưng tính thêm một tuổi trong lòng mẹ, Ưng Lịch sắp tròn mười bốn.
Ưng Lịch được các triều thần rước vào Điện Cần Chính vào ngày quý mùi, mười một tháng sáu Giáp thân (1884), và lên ngôi hoàng đế tại Điện Thái Hoà vào ngày hôm sau (122).
Cũng như định lệ xưa trước, “sắc phiến tấu ở Các, Nha, sáu Bộ và chương sớ ở bốn phương, trước hết phải do phụ chính Cơ mật viện đại thần [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] duyệt biện, rồi sau tấu lên cho vua nghe” (122) .
Tiếp đến, “Thương bạc thần ở Cơ mật viện cho rằng lễ tấn quang đã thành, [nên] đưa thư cho khâm sứ Pháp là Lê Na [Rheinart], chuyển tư [báo] cho tướng Pháp là Mi Lô [Millot] và gửi về quốc trưởng Pháp” (123) .
Sự việc bỗng trở nên rắc rối, phức tạp đến mức trầm trọng!
Triều đình và kinh thành Huế cũng như cả nước phải trải qua một tình huống gay gắt đáng ra không có, nếu tên khâm sứ Rheinart không căm tức, thủ tướng thực dân Pháp Jules Ferry không ra lệnh cho tên thống tướng Millot, và trực tiếp là tên đại tá Guerrier, y đừng hùng hổ kéo tàu chiến và quân viễn chinh đến Huế làm sức ép (124)!
Tại sao lại hùng hổ, gay gắt đến thế?
Bản văn thư thông báo của Viện – Bạc về việc vua Kiến Phúc mất, vua Hàm Nghi đã được triều đình, hoàng tộc làm lễ đăng quang, được trao đến Sứ quán Pháp tại Huế bởi viên tham biện Ti Hành nhân (thông ngôn) Nguyễn Hữu Cư, vẫn là linh mục, chứ không phải là “một thầy dòng đã bỏ đạo”. “Rheinart phản đối và báo cho ông phụ chính [Nguyễn Văn Tường] biết là nếu không có sự tấn phong của chính quyền “bảo hộ” thì hoàng đế mới đừng mong trị vì” (124) . Thật là xấc láo! Về Jules Ferry? “… Ferry xét thấy tình trạng khẩn cấp, nhất là sợ Nguyễn Văn Tường đưa ông vua mới cùng với triều đình vào sâu trong núi non, đã ra lệnh cho tướng Millot gửi gấp một trung đoàn đến Huế để mà chiếm lĩnh thành phố và tấn phong vua mới” (124) .
Chính Millot đã viết văn thư phúc trình cho bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa tại Paris:
“Mệnh lệnh của ngài đã đến Hà Nội ngày 07 [08.1884], đã được vâng lời ngay: Một đoàn đặc phái quân tám trăm (800) người, kể cả bộ binh và pháo binh đã được đưa tới Hải Phòng cùng với tham mưu trưởng dưới quyền tôi là đại tá Guerrier. Tất cả sẽ xuống thuyền vận tải Tarn mà tôi đã trưng dụng để hướng về Thuận An. Và tại đây, đại tá sẽ làm công việc chỉ huy tối cao đoàn quân lính để hỗ trợ tích cực cho ông khâm sứ Pháp” (124) .
Thật sự là số lượng tàu binh và quân lính sau khi phối hợp với số túc trực sẵn tại Thuận An là gần gấp đôi. Không chỉ tàu Tarn, còn có thuyền chiến cận duyên La Javeline (chạy được ven bờ biển). Các tên dẫn đầu lực lượng Pháp: đại tá Guerrier, thuyền trưởng Mallarme (chỉ huy tàu hạng trung), khâm sứ Rheinart, hai thiếu tá Chopuis và Martr. Quân lính Pháp: một ngàn năm trăm (1.500) tên (124).
Chiều ngày 11.08.1884, Guerrier đã có mặt tại Sứ quán Pháp tại Huế, và đã gặp tên khâm sứ Rheinart. Bọn quan quân thực dân Pháp ở cấp thấp hơn đến Huế muộn hơn, do phải đi bộ từ cửa Thuận An lên, vào ngày 13.08.1884 (124).
Văn thư phúc trình của Rheinart gửi về Pháp, y viết:

“Huế, 13.08.1884,
Thưa ông thứ trưởng,
[…] Ngày 12 [08.1884], trong khi lính đổ bộ lên Thuận An, thì chúng tôi cũng gửi cho quan phụ chính [Nguyễn Văn Tường] một tối hậu thư, mà bản sao được gửi theo [thư này về Pháp].
Cuộc nói chuyện [giữa đại diện Pháp và phái đoàn Đại Nam] rất lịch sự và ngắn gọn. Chúng tôi rút lui để cắt đứt ngay mọi ý đồ bàn luận, sau khi đọc tối hậu thư. Tối hậu thư không định rõ ngày giờ, và chúng tôi đã nói miệng với quan phụ chính [Nguyễn Văn Tường] là nếu không được thoả mãn, thì chúng tôi sẽ tấn công kinh thành buổi sáng ngày mười bốn [14.08.1884]. Chúng tôi có ý định thực hiện một sự thúc bách sau cùng, [vào] chiều ngày mười ba [13.08.1884] để chỉ ngày giờ nhất định.
Chúng tôi đã báo là quân Pháp lên Huế ngày mười ba [13.08.1884], và mọi sự bố trí sẽ được thực hiện nhằm vào cuộc tấn công như đã được dự tính.
Có một điểm mà chúng tôi đã sắp xếp tuỳ nghi nhượng bộ, nếu cần thiết, bởi vì chúng tôi rất muốn đi đến một thoả hiệp mà không cần dùng sức mạnh. Và điểm đó là sự hiện diện của chúng tôi, cùng với một đoàn người Pháp hộ tống vào ngày tấn phong… […]…
Chúng tôi [được thoả thuận để] chiếm lĩnh nhượng địa bên trong thành nội [:Mang Cá, tức Trấn Bình đài] vào buổi chiều và hôm sau [14.08.1884 (?)]. Lễ tấn phong vua mới [Hàm Nghi] tiến hành ngày mười bảy [17.08.1884]… […]…
Chúng tôi có ý định đi vào cái cửa vốn dành riêng cho vua. Mãi cho đến lúc này triều đình đã nhượng bộ mọi đòi hỏi của chúng tôi, mặc dầu chẳng ưa ý chút nào, và nhất là bởi chúng tôi có đủ sức mạnh (1.500 binh sĩ)…
Khâm sứ tạm thời: Rheinart (kí tên)” (124)
.

Với giọng điệu thực dân lớn lối của y, Rheinart viết về việc chúng gửi tối hậu thư đe doạ tấn công kinh thành Huế và về sự nhượng bộ của triều đình Đại Nam ta như thế đó! Thật ra, yêu sách của thực dân Pháp, cụ thể là của Rheinart, còn ghê gớm hơn, nhưng không được hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và đình thần, hoàng thân đồng ý. Đó là yêu sách đưa phụ chính thân thần Hồng Hưu, một kẻ thân Pháp đồng thời là một kẻ phạm tội về đạo đức, luân lí chưa kịp xét xử, lên ngôi hoàng đế thay vì Hàm Nghi (125)! Thực dân Pháp cũng phải hậm hực nhượng bộ sau khi triều đình đã thoả mãn cho chúng một yêu sách về “nhượng thổ trong kinh thành” , lâu nay hai phụ chính chưa chịu cho Pháp thực hiện, mặc dù vốn đã ghi vào điều khoản thứ năm (V) “hoà” ước Giáp thân (1884), và về việc làm lễ tấn phong cho vua Hàm Nghi như sứ Tàu ngày trước, kể cả việc đi cửa giữa hay cửa bên Ngọ môn, theo nghi thức đã cố định, nay phải châm chước!
H. Cosserat trần thuật lại lời Lucien Huard một cách thực dân xấc xược trước khi phê phán theo quan điểm của y:
“… Đúng pháp luật mà nói, thì ông Tường ra khỏi kinh thành là để trình diện trước tòa án binh [vì “vi phạm “hòa” ước”!!!] […]; nếu khôn ngoan hơn, thì ta không nên để một con người [:Nguyễn Văn Tường] rõ ràng là kẻ thù của chúng ta cầm Triều đình, một con người luôn đã và sẽ chống phá nền đô hộ của chúng ta theo cách này hay cách khác, không chịu chấp nhận nó.
Nhưng chúng ta đã tin, đã làm bộ tin sự thành thật trong những lời phản đối của ông ta [về các biến động trong triều đình], và đã chấp thuận những lời khôn khéo của ông ta như là bằng chứng của ý nghĩ tốt. […]” (124).
“Mặc dầu có bài tuyên bố của tướng Millot với dân An Nam mà đại tá Guerrier đã thủ sẵn trong túi, và tiếp đó thì tung ra để loan truyền, nhưng cũng chẳng có gì thay đổi ở Huế, ngọai trừ cái tên hoàng đế.
“Thay vì Kiến Phúc thì nay là Mệ Tríu [:Hàm Nghi]”, và luôn vẫn là Nguyễn Văn Tường trị vì.
Thật sự, thì nay lá cờ Pháp phất phơ trên kinh thành, bên cạnh cờ nước Nam [vì Pháp đã đóng quân ở Mang Cá], và quan phụ chính [Nguyễn Văn Tường] không thể tha hồ bày mưu tính kế để chống lại chúng ta […]” (124)
.
Và Rheinart viết phúc trình vào ngày 21.08.1884:
“… Khi đi ra, thì người ta bảo chúng tôi theo con đường và cổng bên phải (đường của quan văn). Cửa giữa không được mở ra nữa. Điều này trước đây cũng như vậy đối với sứ thần Trung Hoa phụ trách chuyển đệ tấn phong. Những người này chỉ xuyên qua cửa giữa lúc vào. Tôi thoạt có ý muốn đi ra cũng vẫn theo cửa giữa, nhưng nghĩ lại là trước đây đã không yêu sách, thì bây giờ cũng nên bằng lòng với kết quả đã đạt được…” (124) .
Sử gia của nước ta ghi nhận về sự kiện đó:
“Trước đây đem việc làm lễ tấn quang, [triều đình] gửi thư sang giám quốc [tổng thống] Đại Pháp. Đến đây, [tổng thống Pháp] gửi thư trả lời nói: Chính thể ở nước ta, nước ấy đã chẳng biết gì, duy việc đại lễ tấn quang và việc đặt phụ chính thần, nước ấy cùng tri phương [:danh thơm được biết đến] đã hợp biết sự thể.
Viện thần [:Cơ mật viện đại thần] đã chuẩn y rồi, cho nên [vua] chuẩn cho [Guerrier, Rheinart và quân lính của chúng] tiến yết [:được vào yết kiến vua].
Sứ [Rheinart] ấy lại yêu cầu xin cho quan quân nước ấy vào đóng ở Trấn Bình đài. Vua [Hàm Nghi] cũng y cho.
(Trấn Bình đài [được] làm ở ngoài cửa [thành, có tên là cửa] Trấn Bình. Thành cao một tầng, chu vi 246 trượng 07 thước 04 tấc [ta], tục gọi là thành Mang Cá).
Nay cho quan quân ấy vào đóng. Đó là nơi nhượng thổ” (126)
.
Đến trung tuần tháng chín Giáp thân (1884), cách thời điểm tên Guerrier kéo quân vào Huế khoảng ba tháng, vụ việc càng được làm sáng rõ. Không ai khác, chính quan đệ nhị phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, trong tháng chín về sau đó, đã viết bản tấu, đọc giữa triều đình, trình bày rõ và chi tiết hơn về sự kiện Guerrier kéo tàu chiến, đại binh vào hăm doạ tấn công kinh thành Huế ấy (125):

“PHỤ CHÍNH THÂN THẦN GIA HƯNG VƯƠNG KIÊM SUNG TÔN NHÂN PHỦ HỮU TÔN CHÍNH HỒNG HƯU BỊ TỘI, CÁCH CHỨC TƯỚC, PHẢI AN TRÍ Ở PHỦ CAM LỘ” (125):

“Trước đây, Chấn Tĩnh quận công là Miên Trí tâu hặc vương ấy vì nhân việc tư bỏ việc công, tiết lộ quân quốc trọng sự, gia dĩ thêm thói dâm dục (cùng với công chúa Đồng Xuân can tội tước tịch, đổi theo họ mẹ là Hồ Thị Đốc, thông gian sinh con). Mọi khoản giao cho Tôn nhân phủ hội đồng, phụ chính đại thần xét nghĩ; bèn giao Sở Túc vệ giam xét. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lại đem đủ tình trạng vua ấy [:Gia Hưng vương (127)] tâu bày, xin cùng xét nghĩ một thể.
(Tâu nói:
“Ngày tháng sáu, Giản tông Nghị hoàng đế [Kiến Phúc] mất, bọn chúng tôi vâng tuân lời di chúc, chọn lấy ngày mười ba (13) làm lễ tấn quang. Trước một ngày đó, sứ cũ Pháp là Lê Na [Rheinart] uỷ cho ký lục Hinh tới dinh bọn tôi nói: Nếu tôn Gia Hưng vương lên làm vua thì y thuận nghe, bằng không thế thì y gây chuyện, đem hết gia quyến bọn tôi bắt tội. Bọn tôi trộm nghĩ vì việc lớn của Nhà nước, không dám đoái riêng, một mặt cứ y ngày làm lễ tấn quang, một mặt nói với vương ấy, bằng không tình gì [:nếu không có tham vọng cướp ngôi vua], thì nên uỷ cho báo với sứ ấy đình chỉ [cho] bớt việc, đừng nên ngăn trở [việc tấn quang], sinh ngờ. Nhưng vương ấy để lòng đã lâu, không chịu uỷ báo cho sứ ấy. Chước đó không thành, [Rheinart] mới đưa thư cho quan binh ấy đóng ở miền Bắc [Millot]. Ngày 22 tháng ấy, quan tham tán đóng ở miền Bắc [Guerrier] xuất đem hơn mười (10) chiếc thuyền quân, đến Sứ quán đó. [Chúng] đe dọa, toan muốn sinh chuyện [với triều đình ta], và vào thành đóng giữ [tại Mang Cá]. Bọn tôi bất đắc dĩ phải nhấn nhún để định ngôi lớn, xin chuẩn cho quan ấy vào làm lễ tiến yết và cho quan binh ấy vào thành.
Từ đó đi, Hồng Hưu lấy bịnh nằm rền trong phủ đệ, không để ý gì đến việc công. Trong các hàng thân phiên đã có nhiều người cùng biết.
Chấn Tĩnh quận công thửa nói thế cũng do lòng công phẫn. Nay [vụ Hồng Hưu] phát ra việc này, tội án thật là sâu nặng, thế mà còn dám kéo dằng dai gần được một ngày. Lê Na [Rheinart đã có lệnh tạm thôi chức vụ khâm sứ, Lemaire thay thế, nhưng Rheinart còn chờ tàu] hiện đóng ở cửa đồn Thuận An, liền về [lại] Sứ quán, uỷ người tới dinh chúng tôi, bảo phải khoan tha cho Hồng Hưu về phủ, không thì y gửi điện về nước ấy, không khỏi lại sinh chuyện lôi thôi. Hôm qua tôi (128) và Nguyễn Văn Tường đi đến Sứ quán ấy (Lê Na [Rheinart] về rồi), sứ mới [Lý Mai (Lemaire)] bảo rằng: “Trước đây về khoản làm lễ tấn tôn và việc Hồng Hưu, có người không bằng lòng (ám chỉ vào Lê Na [Rheinart]), đưa tin gièm pha đã nhiều. Nước ấy [:Pháp] hẳn cũng sinh lòng thiên lệch. Nay nên xử trí cho khéo. Vả, nước ấy bảo hộ quý quốc [:Đại Nam], việc triều đã chẳng hề can dự. Duy có việc lớn là lễ tấn tôn cùng với phụ chính đại thần đều là việc quan trọng, nên cho viên ấy [khâm sứ đương chức] dự biết, thế mới hợp thể, rồi về sẽ báo tin về nước ấy, hẳn sẽ bằng lòng. Còn tội án của Hồng Hưu, mặc dầu quý quốc xử đoán, viên ấy không dám nói các lẽ. Vả, Hồng Hưu hệ thuộc là người ý thân của nhà vua, chung lòng nghĩa vui lo”.
Xem như sứ Pháp thửa nói thửa làm, thì mối tình thông quan [loạn luân của Hồng Hưu, câu kết với Pháp], thực đã không thể che được, duy đương lúc Nhà nước có tang, lòng người chưa định, Cung [thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị, hoàng thái phi Nguyễn Văn thị] đương lúc đau thương, bọn tôi không dám vào tâu, sợ phiền lòng thánh lo nghĩ, mà làm cho dân chúng ngờ hoặc, [chỉ] nín náu lựa theo để nên việc lớn. Nay [Hồng Hưu] can khoản ấy, vốn không dung giết, mà còn dám như thế, thực đáng khá sợ. Bọn tôi cùng bàn, nghĩ theo lời xin của sứ mới, do Viện tôi nghĩ soạn tờ tư, đệ giao cho sứ ấy, và đem cái án của Hồng Hưu để tuân làm”).

Bèn chuẩn như lời tâu. Đến đây án thành, [Hồng Hưu phải bị] cách bỏ chức tước, phát đi an trí ở phủ Cam Lộ, Quảng Trị. Phòng (nhà) vương ấy [Gia Hưng vương Hồng Hưu] có bảy công tử, [bị] giáng làm tôn thất, chia giao cho các tỉnh quản thúc. (Tôn Thất Huy, Tôn Thất Diễn an trí ở Cam Lộ; Tôn Thất Chuân, Tôn Thất Dũng, giao về Nghệ An; Tôn Thất Linh, Tôn Thất Tân, Tôn Thất Vệ, giao về Hà Tĩnh)” (125)
.

Lời tâu hặc của Chấn Tĩnh quận công Miên Trí, quá trình điều tra, nghị xử của Sở Túc vệ, Tôn nhân phủ, bản tấu của đại thần Tôn Thất Thuyết (ghi rõ sự câu kết của Hồng Hưu với Rheinart, lời bàn thảo của Lemaire có trình bày rõ về mưu đồ, hành vi đen tối của Rheinart), và những tang chứng, nhân chứng, tất cả đã làm sáng tỏ vụ việc.
Sau Hồng Bảo, Dục Đức, Hiệp Hoà, đây là vụ thứ tư thực dân Pháp thực hiện âm mưu lũng đoạn ngai vàng triều Nguyễn để nắm lấy quyền lực, nhằm khuynh loát, đẩy dân tộc ta vào vực thẳm nô lệ.
Người ta đã đặt vấn đề, căn cứ vào lô-gích (logic, logique) của chuỗi vụ việc trong sự kiện này:
+++ 1. Tại sao Kiến Phúc chết? Phải chăng Hồng Hưu giết Kiến Phúc một cách mờ ám theo sự câu kết với thực dân Pháp?
+++ 2. Phải chăng không thể không nghi ngờ Pháp muốn đưa Dục Đức trở lại ngai vàng, sau khi Dục Đức sai người giết Kiến Phúc một cách ám muội? (Lúc này Dục Đức và gia đình riêng vẫn còn sinh sống và học tập tại Giảng đường Viện Thái y).
+++ 3. Tại sao thực dân Pháp muốn đưa Hồng Hưu, vốn là một tội phạm loạn luân lên ngôi hoàng đế? Phải chăng do phong tục của người Pháp là người ruột thịt trong họ tộc (anh chị em họ chẳng hạn) có quyền kết hôn, mà theo phong tục nước ta như thế là loạn luân? Đây cũng là một mắc mứu của “tả đạo”?
Sự thật, vua Kiến Phúc chết vì bệnh (tái phát trầm trọng sau khi đã khỏi). Nếu nghi vấn, thì chỉ có thể đặt một giả thuyết duy nhất, ấy là do một chất độc nào đó của Pháp, Pháp đã trao cho Hồng Hưu hoặc người thân tín của Dục Đức, mà các quan ngự y (vốn giỏi nhất nước) trong Thái y viện không giám định pháp y được. Còn những câu hỏi khác đã được làm sáng tỏ bằng chính văn bản, trong đó quan trọng nhất, có tính chất đúc kết là bản tấu của Tôn Thất Thuyết, bản án của Tôn nhân phủ (mà về sau, chính triều thần và Đồng Khánh khi đã lên ngôi, cũng vô hình trung [đúng hơn là đã tảng lờ về chính trị] và khá minh nhiên [về đạo đức] xác định lại bản án đó là hoàn toàn đúng sự thật).
Thực dân Pháp không thể không tức giận khi vua Hàm Nghi, chứ không phải Hồng Hưu hoặc Dục Đức được đưa lên ngai vàng.
Sau khi đưa Hồng Hưu đi an trí, vào tháng chín nguyệt lịch, Miên Lâm và Miên Trữ đã được cử thay vào chức trách bị trống:
“Lấy người tả tôn nhân Phủ Tôn nhân Hoài Đức quận công là Miên Lâm đổi quyền hữu tôn nhân Phủ ấy; sung phụ chính thân thần Tuân quốc công là Miên Trữ kiêm tả tôn nhân Phủ ấy” (129) .
Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và triều đình, hoàng tộc, Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, hoàng thái hậu Vũ thị, hoàng thái phi Nguyễn Văn thị) đã có giải pháp đúng đắn, bình tĩnh, khi đứng trước thủ đoạn xâm lược (lũng đoạn nội bộ triều đình, hăm doạ tấn công kinh thành) với chiêu bài “bảo hộ” của thực dân Pháp.

“Đã yên rồi nỗi Tây kia
Bây giờ mấy kẻ hiềm nghi lo trừ” (130)


Ai là những kẻ đáng bị “hiềm nghi” ? Câu trả lời cũng đã rõ: Hồng Hưu và Dục Đức! Hồng Hưu đã bị xử lí, còn Dục Đức? Sự thật dẫu vẫn thế, nhưng dưới lăng kính chủ “hoà”, bảo hoàng ngu trung, cố nhiên đã mang màu sắc khác!
Còn “nỗi Tây kia” chỉ mới tạm yên sau khi Rheinart bị triệt hồi về Pháp, để Lemaire, một viên quan văn Pháp có cá tính ôn hoà hơn, thay y làm khâm sứ tại Huế. Trong khi đó, cuộc chiến Pháp – Hoa vẫn rất dữ dội ở Phúc Châu (tỉnh Phúc Kiến) và ở Đài Loan, hai nơi ấy đều thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Tình hình ở Bắc Kì vẫn rất căng thẳng.
Rõ ràng là thực dân Pháp vừa tấn công Trung Hoa bằng súng đạn, vừa tấn công vào nội bộ triều đình nước ta bằng sự lũng đoạn, áp lực.

16

Tháng sáu nguyệt lịch Giáp thân (1884) vẫn tiếp tục trôi qua trong tình hình đó. Bấy giờ, Pháp vẫn tiếp tục phong toả, cấm vận kinh thành Huế. Nguồn lương thực vốn được vận tải bằng tàu thuyền cũng bị chúng ngăn cản. Các tàu thuyền ta, Pháp đã tháo dỡ máy móc và các vũ khí bảo vệ. Do đó, “phụ chính đại thần [phải] bàn với quan khâm sứ [Pháp] đóng ở kinh, xin cho thuê người nước ấy quản coi ba chiếc tàu thuỷ là Thuận Tiếp, Thuận Ổn và Lợi Đạt để chạy đi Hải Dương, Hải Phòng, chở gạo về kinh” (131) !
Mặt khác, tên “quan thượng thư Pháp” Sinh Bích (Silvestre) ở Bắc Kì còn yêu sách triều đình phải rút quân ở tỉnh, chỉ để lại lính tuần thành, lính lệ, phu trạm (132). Nhưng ngay cả các loại lính này cũng phải làm thay những việc lẽ ra theo bình thường triều đình chỉ mướn thuê dân làm. Như thế, hầu như không còn lính chính quy chuyên nghiệp! Pháp đã vin vào “hoà” ước để cưỡng buộc!
Hai quan phụ chính đại thần từ lâu nhận thấy Nguyễn Hữu Độ ngày càng đốn mạt, dựa vào bọn thực dân cướp nước để tạo thế thần, quyền lực. Trước đây, mặc dù vẫn để cho y làm quyền tổng đốc Hà – Ninh, nhưng phải bị giáng xuống hàm cửu phẩm (một hàm thấp nhất trong ngạch quan). Cửu phẩm, lại giữ quyền tổng đốc là cả một sự mỉa mai, và rất bấp bênh, bấp bênh một cách khôi hài trên quan trường (133)! Vì vậy, thay vì với mức hàm bị giáng là cửu phẩm, Nguyễn Hữu Độ được khai phục hàm hồng lô tự khanh (chánh tam phẩm), nhưng phải về kinh đô làm biện lí Bộ Lại (134). Thay vào chức vụ quyền lí tổng đốc Hà – Ninh là Nguyễn Trọng Hợp, kẻ đang làm quyền tổng đốc Sơn Tây. Chính Nguyễn Trọng Hợp cũng chỉ được khai phục không lâu trước đây với mức hàm là hồng lô tự thiếu khanh (chánh ngũ phẩm) (134)! Nhưng tên tướng Pháp Millot hai lần thương thuyết với triều đình, do đó, phải cho cả Nguyễn Hữu Độ lẫn Nguyễn Trọng Hợp lưu lại chức cũ (134). Chả là Millot cần tay sai đắc lực! Hai quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết rất ghét thói xu thời của Hợp và Độ, tồi tệ nhất là Độ, nhưng đành nhân nhượng Millot. Tuy thế, hai phụ chính vẫn phải “đặc biệt đem câu “xem gió chuyển buồm” trách Hữu Độ” (134) , cũng là để nhắc nhở y và các quan khác, như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Huy Lân, kể cả Cao Xuân Dục, những kẻ đang có khuynh hướng cộng tác với Pháp (ban đầu còn dè dặt, chỉ tự giới hạn trong việc giữ an ninh, trật tự xã hội ở Bắc Kì…).
Vẫn tháng sáu nguyệt lịch này, Ê Mô Ni Ê (Aymonier) (135), một tên người Pháp thực dân, nhưng là thực dân về văn hoá, xin giấy phép thông hành đi du khảo trong nước, trừ những vùng đất cấm. Y là nhà nghiên cứu thuộc Sở Bác vật Pháp. “Sở Bác vật ấy học [:nghiên cứu] những môn về truyện cổ tích lưu truyền ở dân gian và những vật kiến tạo của bản quốc” (135) . Thực sự đến khoảng mấy tháng sau (có lẽ đầu năm mới theo lịch Chăm), Aymonier mới bắt đầu chuyến du khảo từ Bình Thuận ra Bắc Kì, thực chất là cướp đoạt các bức tượng, phù điêu, bia kí, trống đồng (136)… Trong đó, mưu đồ truyên truyền về chính trị, quân sự thực dân không phải không là mục đích chính…
Cuối tháng sáu, việc chấn chỉnh quân binh vẫn được tiến hành tại hai vệ Thượng Tứ, Khinh Phi với mục đích yêu cầu “đặt trường diễn võ, diễn tập võ nghệ, và cách bắn súng mở bụng; cấp thêm cho mỗi tháng một quan tiền, được miễn việc công dịch, khiến cho chuyên [việc luyện] tập, để phòng bị lúc cần dùng” (137) . Và khoá thi hương võ khoa tháng bảy, tháng mười tại Bình Định, Thừa Thiên, Thanh Hoá được vạch kế hoạch tổ chức (138).
Đến tháng bảy nguyệt lịch, kinh diên lại được khai giảng để vua Hàm Nghi học tập, trau dồi, bổ sung kiến thức, và luôn có quan giảng tập để giảng kinh sử cho vua và túc trực bên vua để vua hỏi han kiến thức khi cần. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường cũng là một trong các quan giảng tập ấy (139).
Tháng bảy với những công việc trong triều ngoài tỉnh như thế, trong tình hình như thế, lại được tin Ông Ích Khiêm đã chết trong ngục tại Bình Thuận (140)!
Không phải nhầm lẫn, chính là Ông Ích Khiêm, thần đồng văn chương, danh tướng trận mạc và cũng là một quái kiệt “tâm hoả” . Ông đã trở thành phạm viên (người vi phạm luật pháp) , bị xử án lưu đày vào Bình Thuận để sung quân (140). Mức lưu đày nhưng được sung quân là tương đối tự do, thoải mái, như một viên lính mới nhập ngũ, và đến khi mãn hạn chấp hành án sẽ được khai phục (như Nguyễn Công Trứ trước kia chẳng hạn, với câu nói nổi tiếng: “Khi làm quan ta không lấy làm vinh, khi làm lính ta không lấy làm nhục” ). Nhưng vì Ông Ích Khiêm chống đối các quan thi hành pháp luật, nên bị giam vào ngục. Tại ngục Bình Thuận, ông đã chết!
Việc các quan chức vi phạm luật pháp, bị án, không có gì đáng ngạc nhiên. Ông Ích Khiêm cũng đã nhiều lần bị trói, khoá tay, giải về kinh nghị xử, nhưng đều được miễn nghị. Lần này, Ông Ích Khiêm mới thực sự bị án. Việc Ông Ích Khiêm bị án chẳng có gì là lạ! Điều gây sửng sốt cho các quan tại triều, là Ông Ích Khiêm đã chết như thể là tự sát!

“PHẠM VIÊN LÀ ÔNG ÍCH KHIÊM CHẾT Ở NHÀ NGỤC BÌNH THUẬN” (140):

“Ông Ích Khiêm, [vào tháng năm nguyệt lịch] mùa hạ năm ấy, vâng mệnh phải đi khám Sơn phòng Quảng Nam, bị bọn chưởng ấn là Đào Hữu Ích, Nguyễn Doãn Tựu đem việc chỉ hặc (tự tiện bắt lính kinh hơn năm mươi (50) tên hộ tống, và lấy công nữ, đuổi dân cư, xây nhà riêng), giao cho đình nghị. Sau thành án: cách bỏ chức tước (nguyên Binh bộ thị lang, phong tước nam), phát đi Bình Thuận sung quân (theo về khoản tự tiện bắt người hỏi tội), thu hết ấn quan phòng cấp cho cũ [:trước đó], khóa tay giải đến chỗ đi đày. Khi đi đường đến Quảng Ngãi, bị bệnh, nghỉ.
([Ông Ích Khiêm] nói: “Đi theo việc bắt giặc, trải một trăm năm mươi (150) trận, mình bị trọng thương; nay đi đường bị nóng, nhức đau, xin nghỉ lưu lại”).
Tỉnh thần là Trần Nhượng y cho hạn xin ở lại. Bộ Hình cho rằng, vì tình riêng, khinh thường pháp luật, [nên] tâu hặc, phạt Nhượng bị giáng hai cấp, lưu lại làm việc; sai [Ông Ích Khiêm] mỗi ngày phải đi hai trạm, hạn cho đi tới các tỉnh (Bình Định, Phú An [:Yên], Khánh Hòa), không được hạn lưu lại một khắc. Kịp khi tới chỗ đày, phủ thần là Lê Liêm an trí xuống ngục. [Ông] Ích Khiêm tháng ấy chết ở trong ngục.
[Ông Ích Khiêm được] gia ơn miễn tội sung quân, khai phục Hàn lâm viện thị độc, chiếu hàm cấp tiền tử tuất” (140)
.

Người ta còn kể một giai thoại về Ông Ích Khiêm, không biết có xác thực hay không. Giai thoại thường do người sáng tác, truyền khẩu thêm thắt, thậm chí hư cấu, nên dẫn đến tình trạng có nhiều dị bản. Có truyện thuộc loại này xem ra cũng phần nào phù hợp với tính cách riêng của nhân vật lịch sử.
Giai thoại ấy được kể rằng (141): Có một lần, Ông Ích Khiêm mời một số đường quan đến nhà riêng dự tiệc. Trong bữa tiệc ấy, những món ăn đều có vị lạ nhưng rất ngon miệng. Các quan đa số đều là nhà nho, chỉ một ít có thiện cảm với Phật giáo, Lão giáo hoặc số ít ấy vừa là nhà nho, vừa sùng tín một trong hai tôn giáo kia. Với các món ăn Ông Ích Khiêm thiết đãi, nhiều quan biết ngay và tất nhiên rất thích. Họ gọi đó là món “ngu trung”. Ngu trung là trung thành một cách mù quáng, không phân biệt kẻ được mình trung thành là ác hay thiện. Nhà nho vốn duy lí, vốn xem câu nói của Mạnh Tử là kinh điển: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quý, Đất nước thứ nhì, vua chúa chỉ đáng xem nhẹ) . Kẻ sĩ nho giáo luôn luôn xem “dân vi bản”, lấy dân làm gốc. Nhưng món “ngu trung” ấy, một vài quan không từng được nếm, và tất nhiên các món ăn trên bàn đều được trình bày khác với món “ngu trung” bình thường, cho nên không nhìn ra. Nếu trình bày theo cách bình thường, dẫu chưa từng nếm nhưng cũng có thể biết đó là món gì. Do đó, các vị quan vốn kiêng ăn món “ngu trung” thành thật không biết món ăn có vị lạ và cách trình bày cũng lạ mắt đó.
Một người hỏi:
- Các món ăn nấu bằng thịt gì ngon đáo để! Quan gia chủ có thể cho tôi biết được không?
Ông Ích Khiêm đáp tỉnh bơ:
- Đều là chó cả! Đâu cũng chó cả!
Các quan hơi tái mặt hoặc hơi đỏ mặt, tuỳ theo phản ứng bẩm sinh của từng người. Nhưng tại sao Ông Ích Khiêm lại vô ý đến thế! Vả lại chừng như qua ngữ điệu, ông ta muốn nói xỏ xiên gì đây. Sỉ nhục nhau chăng? Cá tính Ông Ích Khiêm vốn thế, cho nên, chấp trách làm gì! Thôi, bỏ qua. Đến vua Tự Đức cũng bỏ qua cho Ông Ích Khiêm cơ mà! Hẳn mọi người đều nghĩ thế, cho dẫu họ hiểu Ông Ích Khiêm chửi họ “ngu trung” như chó! Được trung thành với ông chủ có đạo đức, có tri thức, được mọi người kính trọng, ngưỡng mộ mà không cần tô son vẽ phấn, đó là con chó may mắn. Cái may mắn ấy con chó không tự chọn lựa, vì nó vô tri, chỉ có mỗi một bản năng trung thành. Con chó trung thành với bất kì ông chủ nào đã nuôi nó từ nhỏ, kể cả loại ông chủ là kẻ cướp của giết người, đầu trộm đuôi cướp. Loại thứ hai này đúng là không may mắn tí nào! Kẻ sĩ, những trí thức luôn luôn tự nhắc nhở “dĩ dân vi bản”, phải tâm niệm chữ trung (trung quân một cách sáng suốt), lẽ nào không biết chọn vua để phụng sự? Ông thừa hiểu, hiểu một cách sâu sắc, hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và các quan chủ chiến không ngu trung một chút nào, mà trung thành với triều Nguyễn, với Đất nước, với nhân dân bằng tất cả sự sáng suốt đã được minh chứng bằng hành động! Ông Ích Khiêm cũng tự chửi mình đấy sao?
Dẫu bữa tiệc mất ngon vì sự vô ý, vô tứ của Ông Ích Khiêm, nhưng các quan vẫn cố vui vẻ với nhau và với Ông Ích Khiêm.
Bỗng có một vài viên quan khác đến trễ, được gia nhân mời vào. Tất nhiên người đến trễ lại là quan không phải nhỏ, cũng biện lí, chủ sự, tham biện tại kinh đô. Ông Ích Khiêm đã dành sẵn một mâm ở bàn riêng. Bàn liền được gia nhân bưng vào, đặt ở vị trí cao nhất, có thể gọi là bàn thượng. Các quan vừa mới được đón vào thấy thế, đâm ngại. Một người nói, sau khi đảo mắt nhìn quanh:
- Chúng tôi có lỗi thất lễ đã đi trễ giờ, vả lại… Thật không dám vô phép ngồi ở bàn trên đó!
Ông Ích Khiêm liền nói như chửi:
- Tất cả đều là chó! Ngồi trên bàn thượng cũng chó, ngồi dưới bàn hạ cũng chó!
Lần này, Ông Ích Khiêm cố ý nói sai hai chữ “trên”, “dưới”. Các lần trước thì thôi, bỏ qua, hơi đâu chấp trách Ông Ích Khiêm, nhưng lần này rõ là Ông Ích Khiêm phạm thượng, khi quân (khinh vua)! Tội khi quân là tội chết, với mức án lăng trì xử tử!
Các quan dứt khoát đứng dậy, kẻ trước người sau nói lời cáo từ. Ông Ích Khiêm cản tay lại, không để các quan về. Ông nói:
- Tôi xin các quan vui lòng ngồi lại để uống nước đã chứ!
Ông Ích Khiêm gọi gia nhân:
- Nước đâu? Thật là bọn vô tích sự! Ăn rồi chỉ lo mỗi việc nước cũng không xong, cứ vục đầu mà ăn rồi chơi nhởi thôi!
Các quan không thể nói Ông Ích Khiêm không có ý xỏ xiên, chơi khăm, sỉ nhục đồng sự. Rõ ràng Ông Ích Khiêm mắng nhiếc các quan đều là chó, vua cũng chó, tôi cũng chó, không chăm lo việc nước, chỉ vục mặt lo ăn!
Tất nhiên với ngữ cảnh đó, ngữ điệu đó, cộng với tính hệ thống, ai cũng có thể kết án Ông Ích Khiêm, đều có thể bắt trói ông giao cho Bộ Hình xử án đúng luật. Mọi tội có thể châm chước, khoan tha, nhưng tội lần này, nhất là tội phạm thượng, khi quân, làm sao khoan tha, châm chước được!
Nhưng rồi mọi người vẫn khoan tha, châm chước cho Ông Ích Khiêm. Không ai dâng sớ đàn hặc con người rất tài năng, văn võ kiêm toàn nhưng “tâm hoả” ấy (141).
Dẫu sao, đó cũng là giai thoại, không rõ có xác thực hay không!
Không chỉ giai thoại, người ta con truyền tụng nhau một vài bài thơ, câu đối “động thời văn” của Ông Ích Khiêm. Đây là bài thơ phê phán các quan thời vua Tự Đức còn sống, vì bấy giờ quan ta phải phối hợp với quân Thanh do tướng Phùng Tử Tài thống lãnh để tiễu phỉ, và sử dụng cả quân Cờ đen đã quy thuận, đánh Pháp:

“Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu
Đến khi có giặc phải thuê Tàu
Từng phen võng giá mau chân nhảy
Đến bước chông gai thấy mặt đâu?
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê hiến mãi đứa văng bầu(*)
Ai ơi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu!” (141).


Ông Ích Khiêm lo âu dân tộc ta phải bị đồng hoá thành người Thanh cạo nửa đầu trước, đánh tóc nửa đầu sau thành hình con rết!
Trong nhiều giai đoạn lịch sử, có khi người ta cần có một nhân vật nào đó, thường là đã chết, để gán vào những điều người ta không dám nói, dám viết, hoặc chỉ để hả lòng ghét, khoái miệng chửi, thoả mãn thói đời thích công kích, châm biếm, trào lộng, có khi nhắm đến chính nhân vật ấy… Ai đi bắt tội người đã chết! Mặt khác, đó chỉ là truyền khẩu, mà “khẩu thiệt vô bằng” (miệng lưỡi không có bằng cứ) , đâu phải giấy trắng mực đen, ai bắt tội được người truyền khẩu!
Chuyện văn chương truyền miệng, khẩu thiệt vô bằng với nội dung như thế, dẫu sao, cũng độ lượng cho Ông Ích Khiêm. Tình cảm thơ ca, ngôn từ thi sĩ nhiều khi rất cảm tính! Nhưng còn những tội khác như các quan Khoa đạo Đào Hữu Ích, Nguyễn Doãn Tựu đã tâu hặc thì đâu phải là chuyện văn chương khẩu thiệt! “Luật pháp bất vị thân” (luật pháp không thiên vị người thân), kể cả đồng chí chủ chiến! Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm sao bênh vực cho Ông Ích Khiêm được!
Sự thật về án phạm, về cái chết ở ngục Bình Thuận của Ông Ích Khiêm là đúng như bản án Bộ Hình đã nghị xử, đã tuyên bố, cho thi hành án, và do chính bản thân Ông Ích Khiêm.

17

Tháng bảy nguyệt lịch Giáp thân (1884), hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng đình thần vừa lo ổn định tình hình nội bộ, vừa lo tiếp chấn chỉnh lực lượng quân binh về mọi mặt, nhất là ra sức tổ chức xây dựng hệ thống sơn phòng, thượng đạo. Đó mới là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản. Thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” vẫn tiếp tục được thúc đẩy, chiến tranh Pháp – Hoa đang nổ ra dữ dội tại Phúc Châu, Đài Loan và quân Thanh ngày càng qua nhiều hơn trên biên giới phía bắc nước ta (142). Nhưng phải tác động để hình thành thế trận ấy. “Tọa sơn”, hai chữ ấy cần hiểu sâu xa hơn, không có nghĩa là ngồi trên núi để xem và chỉ ngồi xem mà thôi. Phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản, trên cơ sở lấy sức quân mình, dân mình để lo liệu cho nước mình trước sự xâm lược.
Cùng với Sơn phòng Ngãi – Định do lão tướng Đinh Hội phụ trách, Sơn phòng Quảng Nam là một trong những sơn phòng cần chú trọng ở phía nam tả kì. Ở đó, đang có những người nhiệt huyết đảm đương.

“TU SỬA SƠN PHÒNG QUẢNG NAM Ở XÃ DƯƠNG HÒA, PHỦ THĂNG BÌNH” (143):

“Đồng rừng thượng du có hàng muôn mẫu, đất rất màu mỡ, nhưng vì nước độc, khí nặng, gồm có giặc mán quấy nhiễu, đốc tiễu sứ là Trần Văn Dư [:Trần Dư] xin tăng thêm việc hoàn tụ để cho thế lực tả kì được mạnh lên, nên [vua] sai tu lí, để chứa muối gạo cho nhiều. Lại định cuộc buôn quế Quảng, chọn những người có hiểu tiếng mán ấy sung làm. Phòng quan [:quan sơn phòng] coi giữ công việc cấm những người ngoài cuộc không được giao dịch với người mán và vào trong làng mán bóc quế để thu lợi quyền riêng” (143)
.

Đồng thời, khai phục cho nguyên tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản hàm hồng lô tự khanh, thự lí tuần phủ [Quảng] Trị – [Quảng] Bình (144). Trương Quang Đản, xét quá trình từ trước tới nay, ông là là người cùng Bùi Ân Niên (Bùi Dị) rất kiên cường chống Pháp, cũng đã tỏ ra có tài thao lược. Do đó, bổ nhiệm ông ở Quảng Trị là nhằm thực hiện việc phòng thủ chiến đấu phía hữu trực kì, nơi có kinh đô thứ hai Tân Sở (144).
Song song với việc tổ chức phòng thủ, chiến đấu, còn phải giải quyết những vấn nạn nội bộ chưa phải đã xong.
Dương Danh Lập, trước đây, vào tháng hai Giáp thân (1884), khi Pháp đánh chiếm Bắc Ninh, ông ta đã yết kiến bọn Pháp. Bọn Pháp thấy thế, liền bố trí y làm tổng đốc! Nhưng rồi Dương Danh Lập phải lên Thái Nguyên nhậm chức tuần phủ. Nay can nghị, vì xin nghỉ, tự tiện bỏ về quê, nên mức nghị xử là mang hàm quang lộc tự khanh về hưu trí (145). Đoàn Văn Hội can tội toạ biếm, chủ “hoà”, cũng được nghị xử với mức như Dương Danh Lập. Về sau, y lại ra cộng tác dưới ngụy triều Đồng Khánh (146)!
Kỳ phong quận công Hồng Đình nhiều lần can tội về đạo đức trong triều Tự Đức, nay buông lơi công việc, bị kết án “thác cố bất triều” (147) (tạo cớ để bỏ bê hầu chầu, công tác) , lại vượt ngục, bị bắt được, vụt chết (147)! Chính Vũ Văn Đức buông tha cho Hồng Đình! “Đề đốc phủ ấy là Vũ Văn Đức vì sự tư tuân dong túng, bị phạt trượng, đi đày” (147) ! Hồng Chuyên bị kết án “về tội họp đảng cướp của” (148) ở nhà người đã chết là cố thượng thư Trần Tiễn Thành (148). Là một người có công chiêu mộ quân Phấn Nghĩa nhưng Hồng Chuyên phạm pháp, làm mất uy tín nhóm chủ chiến triều đình Huế. Ông ta chỉ bị nghiêm giam để đợi lệnh (148). Nay ở trong tù, y lại thông đồng vượt ngục (149). Hồng Tu (con Tuy Lý vương) là trường hợp đối nghịch (câu kết với Pháp), y cũng vượt ngục! Cả hai đều bị bắt lại, chịu tử hình (149).
Tất cả các vụ án đều có xét xử nghiêm cẩn.
So với các thời kì khác, các vụ án hoàng thân, tôn thất ở thời đoạn này là hết sức bình thường, theo một truyền thống vốn là nét son của triều Nguyễn: “Luật pháp bất vị thân” .
Bấy giờ, vụ Dục Đức vẫn chưa ổn. Nó có nhiều điểm khá giống với vụ Hồng Bảo sau khi Hồng Bảo bị “bỏ trưởng lập thứ”. Khi không được nối ngôi vua, chính Hồng Bảo hết câu kết với các cố đạo, giáo dân, lại câu kết với sư sãi tại Cao Mên để tìm mọi cách đánh đổ Tự Đức, chiếm lại ngai vàng. Dục Đức cũng thế!

“Đã yên rồi nỗi Tây kia
Bây giờ mấy kẻ hiềm nghi lo trừ” (130)


Hai kẻ bị “hiềm nghi” ấy không phải chỉ là bị hiềm nghi, mà quả thật có âm mưu câu kết với Pháp để chiếm đoạt hoặc lấy lại ngai vàng.
Do đó, để giữ vững ngai vàng cho vua Hàm Nghi, Dục Đức phải bị thi hành án, để diệt trừ hậu hoạ!

“GIÁP THÂN, NĂM KIẾN PHÚC THỨ I (1884), THÁNG CHÍN, MÙA THU, NGUYỄN VĂN TƯỜNG, TÔN THẤT THUYẾT DỜI ĐỂ VUA MỚI NỐI NGÔI LÀ THỤY QUỐC CÔNG XUỐNG NGỤC, RỒI GIẾT NGẦM ĐI” (150):

“Tháng trước, [hai quan phụ chính đại thần Nguyễn] Văn Tường và [Tôn Thất] Thuyết tâu nói: “Gần đây Nha Vệ thành canh phòng hờ hững, nên tên [Hồng] Đình, [Hồng] Chuyên đã vượt được ngục. Vậy tự quân ở lâu Viện Thái y (nguyên tự quân trước bị giáng làm công tử, giam giữ ở đấy), cũng nên làm sớm đi, để khỏi sự trở ngại về sau. Xin chuyển dời sang nhà ngục phủ Thừa Thiên để giam giữ cho được cẩn mật”.
Tâu lên, làm ngay” (150)
.

Hai quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu với vua Hàm Nghi hoặc với thái hoàng thái hậu Từ Dũ, sau đó, lập tức ra lệnh thi hành án một cách khẩn cấp, vì sợ bạo động lại xảy ra như các vụ Hồng Bảo, Ưng Đạo (Đinh Đạo), Hiệp Hoà và Hồng Hưu (vụ Hồng Hưu đang được điều tra, nghị xử).
“Các con trai con gái đều cho theo về với mẹ, giao về quê ngoại quản thúc. Nguyên phi Phan thị (tức là hoàng thái hậu ngày nay) bèn cùng với người con thứ bảy (tức là vua bây giờ) [:vua Thành Thái, trị vì trong suốt thời điểm phần sử các kỉ IV, V được biên soạn], con thứ chín là Bảo Đóa (tức là hoàng tử thứ chín bây giờ) cùng về xã Phú Lương. Hoàng tử thứ mười là Bảo Khiêm theo sinh mẫu là Nguyên Văn thị về ngụ ở xã Phú Xuân. Hoàng tử thứ mười một là Bảo Lỗi còn ở trong bụng. (Tên các hoàng tử đều theo bộ “sơn”, lần này phải đổi theo bộ “thạch”; nay [thời vua Thành Thái] vẫn viết theo bộ “sơn”). Lương xướng do phủ Thừa Thiên đệ cấp.
Rồi hai người [:hai quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết] bí mật sai không cho tự quân ăn uống.
Đến ngày mồng sáu tháng ấy là ngày đinh mùi, giờ thìn, thì tự quân chết ở ngục. Người coi ngục cứ báo là chẳng ăn mà chết; bèn an táng ở cánh đồng xứ Tứ Tây, xã An Cựu, huyẹân Hương Thủy (nay [thời vua Thành Thái] dâng tên là An Lăng)” (150)
.
Cũng trong tháng chín nguyệt lịch Giáp thân (1884), Hồng Hưu cũng bị thi hành án theo bản án do Sở Túc vệ, Tôn nhân phủ, điều tra, xét xử công khai, Hội đồng phụ chính phúc thẩm. Như thế, không còn gì rõ ràng, minh bạch hơn: lời tâu hặc của Chấn Tĩnh quận công Miên Trí đã được thẩm định, xác minh chứng cứ (tang chứng, vật chứng, nhân chứng); bản tâu của quan phụ chính Tôn Thất Thuyết đã làm sáng rõ từng chi tiết của vụ án Hồng Hưu! Mức án là thích đáng.
Bi kịch ở điểm đỉnh mâu thuẫn giữa hai phái chủ chiến, chủ “hoà” trong thời điểm gần đây, không khác về chất với vụ Hồng Tập, Đinh Đạo (cuộc chính biến nhằm tử hình Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, cuộc khởi nghĩa “Chày Vôi”), nhưng khác nhau ở vị trí những người tiến hành (Hồng Tập không giữ chức vụ gì, Đoàn Trưng là kẻ sĩ thường dân; Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết là phụ chính đại thần) và khác nhau ở mức độ của tính chất, quy mô cuộc biến động (tích cực hơn, ít đổ máu hơn vụ do Đoàn Trưng lãnh đạo). Tuy vậy, nhìn ở góc độ khác, xét về giải pháp để bảo vệ ngai vàng, ổn định nội bộ triều đình, vua Tự Đức với hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết lại giống nhau.
Không thể không nhớ lại bản dụ của vua Tự Đức đã được công bố vào thời điểm mười tám năm trước:
“Đinh Đạo [Ưng Đạo] đến tế mả cha hắn là Đinh Bảo [Hồng Bảo], lũ giặc ấy trông thấy cho là không phải người thường, đem lòng kính mến, mưu dựng lên làm vua để mong giàu sang [!]. Các thân công là lũ Miên Định mật tâu xin trừ đi. Vua đem việc ấy bảo các quan đại thần xem lại, [các đại thần] xin y. Vua bảo rằng: “Lòng ta nếu không thể giãi tỏ với mọi người, [thì] còn có thể giãi tỏ với muôn đời, vì sự yêu ghét [hiện nay] đã thiên lệch, không thể bắt ép [mọi người] giống nhau được. Từ xưa [cũng đã] có nhiều việc như thế. Nhưng [ta] lòng tự hỏi lòng, không chút thẹn riêng. Trẫm từ trước đến nay, thương giấu [anh ruột là Hồng Bảo, cháu ruột là Ưng Đạo] cho nên trái với lời nói mọi người, để đến có việc ngày nay, thực là khổ tâm vô hạn! Nay không thể thôi được [việc] nghĩ đến xã tắc, không thể không theo lời các thân công và các quan đại thần. Làm ơn không đầy đủ, vẫn tự thấy thiếu, nhưng trừ kẻ ác cốt phải kì hết, nên quả quyết thì quả quyết, trẫm [thà] chịu tiếng hung ác, tàn nhẫn, mà trừ hết mầm ác, không để lo cho người sau. [Có thể] lũ tiểu nhân [nhân việc tận diệt,] có mượn cớ, [thì cứ] cho là [trẫm nhằm mục đích] để giữ kế lâu dài. Việc phải hay trái đã có công luận, không phải vua tôi ta có dụng tâm” (151) .
Không thể không nhớ những câu tiếp theo trong bản dụ đó. Ấy là mức án: Gia đình Đinh Đạo (Ưng Đạo) gồm mẹ và các người vợ cùng bốn người con trai lẫn gái, tất thảy tám (8) người đều bị thắt cổ chết, để được toàn thây, lại được cấp cho quan quách, vải lụa để chôn (151)!
Biện pháp ấy, chính vua Tự Đức cũng tự thừa nhận là chính đáng, nhưng bất đắc dĩ, và không phải không hung ác, tàn nhẫn: “Nên quả quyết thì quả quyết, trẫm [thà] chịu tiếng hung ác, tàn nhẫn, mà trừ hết mầm ác, không để lo cho người sau. [Có thể] lũ tiểu nhân [nhân việc tận diệt,] có mượn cớ, [thì cứ] cho là [trẫm nhằm mục đích] để giữ kế lâu dài. Việc phải hay trái đã có công luận, không phải vua tôi ta có dụng tâm” (151) .
Dẫu sao, ở một khía cạnh khác, sự thể còn là bi kịch tự trong bản chất của thể thức và chế độ truyền ngôi hoàng đế… Do đó, biện pháp hung ác, tàn nhẫn ấy phải được thẩm định xuyên qua lịch sử phong kiến hàng nghìn năm và trong điều kiện lịch sử – cụ thể của thời đoạn bấy giờ… Hầu hết các cuộc chính biến ấy đều có nguyên nhân trực tiếp là thực dân Pháp, cố đạo Pháp. Riêng ở cuộc khởi nghĩa “Chày Vôi”, thực dân Pháp, cố đạo Pháp cũng là nguyên nhân gián tiếp.
Hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Tôn nhân phủ lần này nhẹ tay hơn rất nhiều! Tất cả là để ổn định ngai vàng nhà Nguyễn, trước đây cho vua Kiến Phúc, lần này cho vua Hàm Nghi, tạo điều kiện cơ bản thuận lợi nhất cho công cuộc kháng chiến chống Pháp (Tân Sở với hệ thống sơn phòng, thượng đạo xuyên Trường Sơn – Việt Bắc, việc thúc đẩy thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu”…) .

18

“Vì không thể cưỡng lại được, triều đình Huế phải kí các “hoà” ước Harmand [1883] và Patenôtre [1884]. Trong đó có một khoản giao cho Pháp khu Mang Cá [Trấn Bình đài]. Phe chủ chiến vẫn xem đây là một kế hoãn binh. Trong lúc còn hoà hoãn, Nam triều (trong tay phe chủ chiến) phải tích cực chuẩn bị kháng chiến và giữ bí mật tuyệt đối với Pháp, đặc biệt với giáo dân chung quanh giám mục Caspar.
Thi hành “hoà” ước, Pháp cho trung uý Julienne đưa công binh chở xi măng, sắt thép đến xây lầu trong Mang Cá” (152)
.
Triều đình Huế vốn có một trong những điều cấm kị, đó là không cho phép bất kì ai có thể xây nhà cao hơn những lầu, gác trong kinh thành. Một lẽ nữa, nếu Pháp xây lầu, chúng sẽ rất dễ dàng quan sát những động tĩnh trong thành. Như vậy, những điểm bố phòng, trại lính sẽ khó thoát khỏi tầm mắt chúng. Không thể để cho quân Pháp phạm thượng, cũng không thể để chúng xây đài quan sát. Phụ chính Nguyễn văn Tường vốn là một người nổi tiếng về thông minh và rất mưu trí. Ông liền được sự đồng ý của triều thần, quyết đấu tranh buộc bọn Pháp phải nhân nhượng.
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường và những viên lính tuỳ tùng ra đến hiện trường xây cất. Ông nói với Julienne, nên triệt hạ, đình chỉ hẳn tất cả công việc xây dựng lầu cao, mà thực chất là xây đài quan sát của quân Pháp. Julienne cãi. Phụ chính Nguyễn Văn Tường đưa văn bản có mô tả khi bàn giao Mang Cá cho Pháp:
“(Trấn Bình đài [được] làm ở ngoài cửa [thành, có tên là cửa] Trấn Bình. Thành cao một tầng, chu vi hai trăm bốn mươi sáu [246] trượng bảy [07] thước bốn [04] tấc [ta], tục gọi là thành Mang Cá)” (126) .
Phụ chính Nguyễn Văn Tường nói:
- Anh thấy chưa, “thành cao một tầng” (126) , và chỉ một tầng mà thôi. Anh xem có ai trong kinh thành này xây cao như bản vẽ thiết kế của anh! Đó là tôi chưa giải thích cho anh hiểu thế nào là “nhượng thổ”. Vả lại, người phương Tây không hiểu thế nào, chứ người phương Đông có câu “nhập gia tuỳ tục” ! Đấy là lịch sự phương Đông!
- Thế thì tôi… xin quan phụ chính hãy chờ tôi quan hỏi quan khâm sứ Rheinart!
Hôm sau, Rheinart gửi văn thư quan Nha Thương bạc, nhờ đệ chuyển lên Viện – Bạc. Được sự đồng ý, hôm sau nữa Rheinart qua Nha Thương bạc xin hội kiến với đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường.
Rheinart trình bày và ngẫm nghĩ một lúc, định hỏi tại sao triều đình Đại Nam lại gây khó dễ trong việc xây cất ở nhượng thổ Mang Cá. Hẳn y không thể quên được năm y mới tới Huế, y đã lừa quan Thương bạc Nguyễn Văn Tường như thế nào tại Long Thọ Cương, để rồi được (và phải) xây Sứ quán tại địa điểm bây giờ! Trong bụng tên khâm sứ thực dân hạng nặng này rất ấm ức vụ triều đình, chủ yếu là hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, không chịu thuận theo ý y để tôn Hồng Hưu lên ngôi vua. Nhưng y cố nén lại sự tức giận mà có lần quan phụ chính nói cho y hiểu đó là cái tức giận của một tên ăn cướp, ăn trộm khi thấy quá khó trộm cướp mà thôi! Rheinart ôn tồn hỏi:
- Thưa ngài phụ chính, tại sao việc xây dựng tại Mang Cá ấy lại khó khăn thế? Phải chăng quan phụ chính ngăn trở việc thi hành “hoà” ước?
- “Ai ngăn trở việc thi hành “hoà” ước đâu?” (152).
- Thưa quan phụ chính, “vì sao ông lại ngăn không cho trúng uý Julienne xây cất doanh trại trong Mang Cá, khu nhượng địa của Nam triều đã kí dành cho Pháp?” (152) .
Phụ chính Nguyễn Văn Tường chỉ mỉm cười, mặc cho Rheinart và Julienne càng lúc càng tức giận.
- Tại sao quan phụ chính chỉ mỉm cười, lại không trả lời cho chúng tôi?
- Tôi đã giải thích cho viên trung uý Julienne đây từ ngày hôm qua rồi! Hẳn anh ta đã nói lại với quan khâm sứ! Hôm nay thì cũng thế thôi! Tôi chỉ hỏi, ai nhìn trỏ (chỏ) mắt vào nhà các anh, các anh chắc không thích. Đấy là câu trả lời các anh tự tìm thấy ở trong đầu của các anh, sao lại hỏi tôi? – Quan phụ chính mỉm cười –. Phải không nào?
Tên Julienne rút súng lục, y giấu đâu đó trong ngực áo. Nhìn khẩu súng lăm lăm chĩa vào quan phụ chính, mọi người đều sợ hãi. Các quan lính bên ta đều không ngờ tên trung uý này táo gan đến mức vi phạm luật ngoại giao!
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường vẫn mỉm cười, khoát tay bảo người lính cận vệ của ông đang đứng ngay trước mũi súng của Julienne, định đỡ đạn cho ông. Rheinart cảm thấy lúng túng, bèn bảo tên trung uý vứt ngay khẩu súng xuống đất, và xin lỗi quan phụ chính. Chính y, y bỗng giật mình, y cũng sợ không khéo lại trở thành cái bung xung, vật hi sinh cho luật pháp, tế Thần “Công lí” (!) của nước Pháp.
Quan phụ chính Nguyễn Văn Tường cũng vẫn mỉm cười. Ông điềm tĩnh nói:
- Thế này, tôi chỉ nói lại một lần nữa thôi. “Chúng tôi chỉ kí nhượng địa cho các ông, chứ không kí nhượng trời cho các ông. Các ông xây cất cao tầng, dân Nam ở chung quanh mở mắt ra đã thấy nhà các ông, nhân tâm sẽ không yên. Vì theo luật pháp nước tôi từ ngàn xưa, không ai được quyền xây cất nhà cửa cao hơn cung điện đài các của nhà vua trong Đại nội. Vì thế chúng tôi chỉ chống lại việc xây cất cao trái phép [đối với định lệ có tính chất luật pháp của] nước tôi. Và điều này không vi phạm gì đến các “hoà” ước!” (152) . Vả lại văn bản đây!
Quan phụ chính bảo người tuỳ tùng mở ra cuộn giấy. Ông chỉ vào biên bản bàn giao: “(Trấn Bình đài [được] làm ở ngoài cửa [thành, có tên là cửa] Trấn Bình. Thành cao một tầng, chu vi hai trăm bốn mươi sáu [246] trượng bảy [07] thước bốn [04] tấc [ta], tục gọi là thành Mang Cá)” .
- Tôi cũng chỉ nhắc lại: Người phương Tây không hiểu thế nào, chứ người phương Đông có câu “nhập gia tuỳ tục” ! Đấy là lịch sự phương Đông! Ai nhòm ngó mãi vào nhà mình, vườn tược mình, hẳn các ông cũng rất khó chịu! Thế mà… – Quan phụ chính vẫn mỉm cười, nói tiếp –. Hôm nay, các anh lại chứng tỏ văn minh người Pháp là chĩa súng vào người khác khi chuyện trò như thế, nhất là đối với một đại thần! Thế là văn minh sao?
Cả Rheinart lẫn Julienne cảm thấy nhục nhã đến muốn trào nước mắt, cứng cả cuống họng. Bọn chúng kéo nhau xuống thuyền, sang bên kia sông Hương.
Đến bờ bên kia, Rheinart mới có thể nói được:
- “Bọn chủ chiến trong Nam triều không sợ súng!” (152) .
Một tên khác có vẻ trí thức hơn, tự nguyền rủa:
- Nền văn minh nước Pháp chúng ta ở đâu? Sao lại dạy dỗ chúng ta kém cỏi và thảo khấu đến thế? Ôi, nền văn minh thảo khấu và “ngoại giao đại bác” (153) !

19

Tháng chín nguyệt lịch Giáp thân (1884), “khâm sứ Pháp đóng ở kinh là Lê Na (Rheinart) gửi thư nói: “Nước ấy và nước Thanh giảng hoà ở Yên Kinh, [nhờ] nước Nga đứng ra điều đình”” (154) . Đó là giai đoạn thoả thuận lại hiệp ước Lý Hồng Chương – Fournier (mười tám tháng tư nguyệt lịch, Giáp thân [17.05.1884]), sau năm tháng được kí kết và cả Pháp lẫn Hoa đều vi phạm. Tất nhiên triều đình cũng đã biết, nhưng lại một lần nữa có dịp phối kiểm tin tức.
“Thư ấy [của Rheinart] do Viện – Bạc tâu lên [nhà vua]” (154) .
Ngay sau khi Rheinart thông tư tin ấy cho Viện – Bạc với dụng ý răn đe, y cũng nhận quyết định triệu hồi về Pháp.
“Khâm sứ mới của Pháp đóng ở kinh kiêm chức toàn quyền đại thần Bắc Kì là Lô Mi Ơ (một tên [gọi cách khác] là Lý Mai [Lemaire]) đến thay. Sứ cũ là Lê Na [Rheinart] về nước” (154) .
Viên quan văn Lemaire đang giữ quyền trước đây của tên y sĩ nguyên lãnh sự Harmand, của hai viên tướng quân đội giặc Courbet, Millot.
Lemaire được chuẩn cho vào triều yết kiến vua Hàm Nghi. Đoàn lính hộ tống và tuỳ tùng của y lên đến con số một trăm bảy mươi tên. Dẫu sao, Lemaire vẫn là một viên quan văn Pháp khá ôn hoà. Bọn thực dân chóp bu ở Paris đưa Lemaire sang làm khâm sứ tại Huế sau cuộc biến động do Rheinart, Guerrier gây ra là có dụng ý. Thực dân Pháp biết khó lòng làm sức ép để đưa Hồng Hưu lên ngai vàng, chúng lại đang sa lầy tại Đài Loan và bị giam quân tại Trường Giang bên Trung Hoa, do đó, chúng cần phải tạo không khí hoà hoãn tại Huế.
Cuộc triều yết ấy vẫn bình thường như dưới triều Tự Đức.
Hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và triều thần vẫn phải thực thi những công việc cấp bách và thiết thực sau khi tâu lên vua Hàm Nghi.
Bấy giờ, tháng chín nguyệt lịch, ân khoa thi hương văn khoa tại hai trường thi Hà Nội, Nam Định phải tổ chức chung tại trường thi Thanh Hoá. Danh sách sĩ tử đến hơn ba nghìn (3.000) người. “Kì thi đã định, [nhưng] rồi đốc thần tỉnh Nam Định là Phan Đình Bình cho rằng công sứ Pháp không cho học trò vào Thanh thi, đón đường cản về. Ở giữa đường, có người bị lính Pháp bức bách bắt làm công việc sai dịch” (156) ! Cuối cùng chỉ khoảng hai nghìn (2.000) sĩ tử được dự thi. Một số lớn lo sợ quay lui hoặc hết sạch tiền gạo mang theo, lại bị làm sai dịch. Do đó, triều đình có ban dụ cho sĩ tử vay tiền gạo nếu bị thiếu hụt (156)…
Bọn Pháp thật hết sức lộng hành!
Ngay kinh đô Huế, chúng cũng đang tìm thời cơ để tấn công, chiếm đóng!
Về phòng thủ và chuẩn bị hậu lộ cho kinh đô, nhất là đình thần, nội cung, trường thi hương Thừa Thiên vốn ở gần và phía bên trái chùa Linh Mụ, tại xã An Ninh, huyện Hương Trà, nay được dời về địa phận hai xã La Chử, An Lưu cũng thuộc huyện đó (157). Trường thi Thừa Thiên ở địa điểm mới được xem như là nơi triều đình, nội cung sẽ nghỉ chân hoặc đóng tạm khi kinh thành có biến, và tuỳ theo mức độ tình hình (sự tấn công của giặc Pháp, kết quả phản công của quân ta) để từ trường thi ấy mà quyết định ra Tân Sở hay không.
Và về việc sinh sống, hồi cư của dân hai tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, sau khi chiến trận bùng nổ ở đấy đã lắng xuống, một bản dụ đã được ban bố. Trong đó, nhấn mạnh đến sự ổn định lại cuộc sống, không bỏ ruộng hoang (158). Hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương cũng có lệnh dụ cho đổi lúa mùa, cấy lúa chiêm sau một số vụ cấy ở các chân ruộng thí điểm (159).
Mùa đông, tháng mười nguyệt lịch Giáp thân lại đến (1884)!
Mặc dù vấn đề tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng di dạng) vốn tạm lắng xuống nay lại nổi lên, phải tức thời giải quyết, nhưng vấn đề cấp bách phải tiến hành nhanh và mạnh là xây dựng, củng cố để hoàn chỉnh sơn phòng, nha doanh điền (cũng là một dạng “ngụ binh ư nông” , đặt việc binh trong việc nông tang).
Lần này, khởi phục cho Nguyễn Chính (Chánh), nguyên thái tử thái bảo, thượng thư Bộ Lại, kinh lược sứ Bắc Kì phạm lỗi hèn nhát, đã sửa lỗi, được sung Sơn phòng sứ Hà Tĩnh với hàm hồng lô tự khanh (160). Vì biết Nguyễn Chính tuy đã từng là quan đại thần nhưng hèn nhát, nên bên cạnh ông ta, phải có nhiều viên quan tâm huyết, nhiệt thành, kiên cường. Đồng thời, di dời và xây dựng củng cố Nha Doanh điền Quảng Bình.

“ĐẮP THÊM PHÒNG SƠN PHÒNG Ở HÀ TĨNH” (161):

“Nguyên trước Phòng ấy ở huyện Hương Khê, trong tiếp với Quảng Bình, Quảng Trị, ngoài thông với Thanh Hoá, Nghệ An. Thượng du lại tiếp với Xiêm La. Nhưng lúc buổi đầu đóng giữ ở đấy chỉ phái có ba trăm (300) người. Tự Nguyễn Chính sung làm chánh sứ và bọn phó sứ là Phan Trọng Mưu, tham biện là Phan Đình Phùng, trù tính xin làm, đã tư Viện thần [:đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] chước định:
Xây đắp thành luỹ, công đường, tư thất và các nơi kì đài, pháo đài; phái vệ binh tám trăm ba mươi (830) người, chia ban đóng giữ; đặt súng gang, súng lớn hai mươi (20) cỗ, súng vượt núi [:quá sơn] năm mươi (50) cỗ. Phái quân Thần cơ hai (2) đội, đổi phiên nhau phụ đóng giúp việc. Lại mộ lính Mán, tên nỏ thuốc độc, để đủ sai khiến. Phàm việc đều do phòng thần chuyên làm; như có việc quân hay việc gì khẩn yếu, cho tỉnh thần họp bàn. Đổi đặt Nha Phó sứ ở Đồng Chi, huyện Hương Sơn, vì nơi [ấy] địa thế bằng phẳng đủ giúp cho sự bền vững. Mở hai con đường ở trên: phía nam thông với sách Thanh Lãng đến Sơn phòng Quảng Bình, phía bắc thông với huyện Thanh Chương, đến Sơn phòng Nghệ An” (161).

“DỜI ĐẶT NHA DOANH ĐIỀN QUẢNG BÌNH” (162):

“Nha này ở trang Thanh Lăng, huyện Bố Trạch, phần nhiều thuộc về nhiều trùng núi, không có thung lũng gì. Từ Trần Văn Chuẩn sung làm sứ Nha ấy, sai khám vẽ đồ, xin dời về huyện Phong Niên (nguyên cũ là Phong Đăng, [vì] kiêng tên huý, phải đổi]), [tại] địa phận xã Vạn Xuân, đã do Viện thần [:đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] tâu, chuẩn y cho làm:
Dựng dinh thự, đắp luỹ đất, đặt pháo đài, đặt tham tá lại dịch, khuyên quyên tiền sung việc chi tiêu, như lệ ở các sơn phòng; mở hai con đường phía trên: phía nam thông với sông Tất đến Quảng Trị, bắc thông cửa Bái Đức đến Hà Tĩnh” (162)
.

Như vậy, từ Dương Hoà (Quảng Nam) đến Tân Sở (Quảng Trị), từ Tân Sở (Quảng Trị) đến Vạn Xuân (Quảng Bình), Đồng Chi và Hương Khê (Hà Tĩnh)… là một hệ thống sơn phòng liên hoàn với thượng đạo xuyên Trường Sơn suốt cả thượng du Trung Kì, thông qua Xiêm La, và nối liền với hệ thống sơn phòng ở thượng du Bắc Kì, thông qua Trung Hoa. Đó là chưa kể Sơn phòng Lão Thuộc (Quảng Ngãi – Bình Định), do lão tướng Đinh Hội phụ trách. Ngoài ra, còn “đặt thành [luỹ], cắm chông ở hai huyện Cam Môn, Cam Cát thuộc về Hà Tĩnh (dùng thổ huyện thừa biện lí, phòng [chống] thổ phỉ)” (163) .
Hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đồng tâm, nhất trí hạ quyết tâm, xem việc xây dựng hệ thống sơn phòng, thượng đạo là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản nhất. Phan Đình Phùng, trước đây, trong vụ truất phế Dục Đức (Ưng Chân), đã phản biện việc đó nhưng không hiểu rõ sự thật về Dục Đức, nên ông bị cách chức, được giữ nguyên học vị tiến sĩ, về quê. Nay chính Phan Đình Phùng là người hưởng ứng tích cực nhất, ủng hộ hai quan phụ chính với sự thấu hiểu sâu sắc nhất.
Phụ chính Nguyễn Văn Tường hết sức nhiệt thành bổ sung kế hoạch, thúc đẩy thực thi kế hoạch từ những năm còn là tri huyện, khâm phái bang biện ông đã bước đầu bắt tay vào thực hiện, kể cả những năm sau khi kí kết xong “hoà” tước Giáp tuất 1874 (vào tháng mười hai năm Tự Đức thứ mười chín, Bính dần [1866, đầu năm 1867], tháng mười năm Tự Đức thứ hai mươi tám, Ất hợi [1875]…):
“Xin ở Tây Sơn tỉnh Bình Định và Trấn Ninh tỉnh Nghệ An, mở con đường ở thượng du thông đến Cam Lộ, để [trong việc] chống giữ, [giúp đỡ] lẫn nhau” (164).
“Đặt Nha Kinh lí Sơn phòng tỉnh Quảng Trị, (văn vũ chánh phó sứ mỗi chức một người), lấy hai huyện Thành Hoá, Hướng Hóa lệ thuộc vào, theo lời xin của Nguyễn Văn Tường:
([Thượng thư Nguyễn Văn] Tường cho là đồn Trấn Lao, huyện Thành Hóa, giáp giới với Long Giang, đất tốt lợi nhiều, có thế khống chế. Trước [đây ông đã] vâng mệnh kinh lí nhưng không chuyên trách, sau không thành công. Xin châm chước công việc sơn phòng ở Sơn Tây, đặt sơn phòng để được thực tế)” (165)
.

20

Vấn đề tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) từ tháng tư năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Tân mùi (1871), đã là một quốc nạn. Tám, chín năm sau đó (1879 – 1881) thực sự là một quốc nạn nhức nhối. Đến lúc này, quốc nạn tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) ấy lại nổi lên đến mức trầm trọng!
Khoảng đầu hạ tuần tháng chín, Giáp thân (1884), vẫn còn niên hiệu Kiến Phúc (nguyên niên), biện pháp mạnh được chuẩn y.
“Người lái buôn nhà Thanh là Lý Thành Long chở ngầm tiền đồng kiểu khác đưa vào vụng biển An Vĩnh, [thuộc] Quảng Ngãi. ([Y] thuê tàu thuỷ Địa Lỵ A chở hai mươi (20) bao, bao chứa trong thùng). Việc ấy phát ra, [Lý Thành Long bị Bộ Hình] kết án phạt trượng và phát lưu [đày]. Bộ Hộ [Phạm Thận Duật] đổi xin trảm quyết. Phụ chính [Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] duyệt lại, xin y [như lời xin của Bộ Hộ]. [Vua] chuẩn cho chính pháp ngay [:thi hành đúng mức án lập tức], [đồng thời] thông lục cho các địa phương, có nơi nào như thế, cũng tuân [theo án chém tức khắc] làm một lượt.
Rồi thì phố Gia Hội [ở Huế], phố Đô Hạ có hiệu buôn của bọn La Đậu, Phan Vu Hán và Phù Định Tam (là người buôn nhà Thanh) dùng tiền đồng kiểu khác, ngầm tính mua bán với nhau. [Chúng] cũng bị kết án chém ngay (La Đậu, Phan Vu Hán), trảm giam hậu (Phù Định Tam), có sai [biệt về] bậc [án]” (166)
.
Đó là một biện pháp cực mạnh nhắm đến bọn đầu sỏ phạm pháp. Nhưng đối với nhân dân, bao người đã lỡ cất giữ, tiêu dùng thứ tiền đồng giả ấy? Những năm trước, thời đoạn đại thần Nguyễn Văn Tường còn làm thượng thư Bộ Hộ, đã có nhiều biện pháp giải quyết, nhưng quốc nạn ấy chỉ giảm bớt một thời gian, rồi gần đây và đến lúc này, lại không đơn giản. Thật ra, những năm từ khi Pháp bắt đầu xâm lược Bắc Kì lần thứ hai (1882 – 1884), quốc nạn ấy vẫn như một căn bệnh kinh tế – tài chính trầm kha mà ngấm ngầm!
“Khi ấy các tỉnh Thừa Thiên, Phú An [:Yên], Bình Định, Quảng Trị, có số tiền đồng kiểu khác, hai, ba năm nay lưu bá [:lưu hành rộng khắp] số nhiều” !
Do đó, biện pháp thứ nhất: đổi cấp (khuyến khích dân đem tiền dị dạng đến kho bạc Nhà nước để đổi tiền thật theo giá ấn định). Biện pháp này không thể chu toàn được (167)! Biện pháp thứ hai: định mệnh giá thấp (có phân loại tiền); loại bỏ thứ tiền kĩ thuật đúc xấu và chất lượng đồng quá kém, tố giác với quan chức những ai tiêu dùng loại tiền xấu, kém ấy (167). Đi đôi với hai biện pháp ấy là nghiêm cấm (trọng cấm) và án chém lập tức được thi hành với những tên đầu sỏ nhập lậu, buôn tiền giả, rút tiền đồng thật của nước ta ra nước ngoài (như đối với bọn Lý Thành Long, bọn La Đậu, Phan Vu Hán) (167).
Biện pháp đối với vàng bạc cũng được ban hành (168). Đó là quy định mức giá vàng ở mức cao hơn giá thị trường lâu nay (mức giá tuỳ theo loại tuổi vàng). Bởi lẽ, do quốc nạn tiền giả, nên mệnh giá tiền lại đắt hơn mức giá vàng bạc, tính theo tỉ lệ và giá thị trường chung trước đây trong khu vực, gồm các lân bang châu Á Tế Á.
Kết quả của biện pháp ấy như thế nào?
“Khi ấy lệnh định giá vàng bạc sức [:ban hành] xuống [dân gian], bọn vô lại [:bọn xấu] và hiểu sự [:người hiểu biết sự lí] ở chợ phố phần nhiều cứ đi nhòm [:thám thính] những người đòi ăn của đút, hay cáo phát quan lại. Lại nhân đó, sinh ra rối việc. Chợ búa vì đó mà không được yên. [Thế] rồi dân gian mua bán, sau cũng tuỳ thời, thuận tình [:thuận theo tình trạng chung của thị trường] như cũ.
Lệnh ấy trọn [:hoàn toàn] không thi hành được” (168)
.
Tháng mười như thế, đến tháng mười một, phải thực thi một biện pháp khác: “Mở cục đúc tiền ở Nha Đốc công, kho Vũ khố” (169) với thợ làm khuôn ở Hà Nội được điều động vào (169). Tháng mười hai nguyệt lịch, “chuẩn đặt ti đúc tiền ở hai tỉnh Thanh Hoá, Bình Định” (170) .
Đến tháng giêng, năm mới, bắt đầu lấy niên hiệu Hàm Nghi (nguyên niên), Ất dậu (1885), Vũ Trọng Bình vốn là một vị quan thanh liêm, khắp cả nước, trong triều ngoài tỉnh, lâu nay đã biết danh, liền được hai phụ chính và đình thần tâu xin “khởi phục cho nguyên hàm tổng đốc hưu trí là Vũ Trọng Bình làm Hộ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, thự hiệp biện đại học sĩ lãnh Hộ bộ thượng thư là Phạm Thận Duật đổi lãnh Hình bộ thượng thư” (171) . Còn thượng thự Bộ Hình Đặng Đức Địch được chuyển qua lãnh đạo Bộ Lễ. Nhưng bọn thực dân Pháp, cụ thể là tên Lemaire, không đồng ý! Thật là trịch thượng một cách xấc xược, bởi hai chữ “bảo hộ” hoặc “bảo trợ” áp đặt! Nhưng tên Lemaire này lại biết cách nói mát!
“Tự khi sứ Pháp [Lemaire] cho [rằng], [Vũ] Trọng Bình nguyên tổng lí Nam Định cùng với quân Pháp giao binh, [nên Lemaire] sinh ra có ý nghi phòng, [y] gửi thư nói: “Quý quốc vâng mệnh kén dùng thượng thư sáu bộ, không [thông] tư cho [Sứ quán Pháp] biết, đó là ý không [thừa] nhận nước Pháp bảo trợ”. [Vũ] Trọng Bình lại nhân đó dâng sớ từ chối, rồi lại về hưu trí. [Vua lại] chuẩn cho Phạm Thận Duật lại điệu bổ lãnh Hộ bộ thượng thư” (171) (Nguyễn Thành Ý chuyển làm tả tham tri Bộ Hình, hội đồng bàn định công tác và quyền giữ khuôn dấu của bộ (171)) .
Vũ Trọng Bình vốn rất ủng hộ Nguyễn Văn Tường. Không những là vị quan thanh liêm nổi tiếng, ông lại nhiệt thành với kế hoạch xây dựng, củng cố hệ thống sơn phòng, thượng đạo, chấn chỉnh lực lượng quân binh. Do đó, lần này, để đề phòng bọn giặc miệng tấn công, hai phụ chính và đình thần, được vua Hàm Nghi chuẩn y, đã triệu ông về kinh đảm nhiệm công tác lãnh đạo Bộ Hộ trước tình hình quốc nạn tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) lại nổi cộm lên. Nhưng, tất nhiên, bọn Pháp liền ngăn trở biện pháp đối phó của hai phụ chính, đình thần, trước nguy cơ giặc miệng của bọn xấu, thân Pháp (“tả đạo”, chủ “hoà”…).
Trong thực tế, rõ ràng “bọn vô lại [:bọn xấu] và hiểu sự [:người hiểu biết sự lí] ở chợ phố phần nhiều cứ đi nhòm [:thám thính] những người đòi ăn của đút, hay cáo phát quan lại. Lại nhân đó, sinh ra rối việc” (168) . Bọn giặc miệng đã tấn công vào các quan chức trực tiếp thi hành lệnh định giá vàng bạc! Và về sau, các cố đạo thực dân người Pháp, sử gia dưới ách bạo quyền của thực dân (Delvaux, Trần Trọng Kim (172)…) lại xuyên tạc, bôi nhọ hai phụ chính (thượng thư Bộ Lại Nguyễn Văn Tường, thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết) là hai vị đã tung ra thị trường tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) (172). Sự tấn công ấy của bọn giặc miệng vẫn tập trung nhất vào phụ chính Nguyễn Văn Tường! Có người lương thiện hơn, cho rằng hai phụ chính đã tung tiền giả để mua lậu vũ khí chống Pháp! Cố nhiên điều ấy cũng sai sự thật. Mua vũ khí là điều tất nhiên, nhưng tung tiền giả ra thị trường lại thất sách. Không thể có chuyện tung tiền giả! Và ngoài ra, trong những tên giặc miệng “hiểu sự” [(dấu hỏi) :hiểu biết sự lí / (dấu sắc): hiếu sự : thích gây chuyện] viết đơn trương vu khống để gây rối, cũng có nhiều kẻ sĩ hiểu biết sự lí đã vô tư khách quan đấu tranh với bọn tham quan ô lại “đục nước béo cò”, bọn quan lại mặc kệ vận nước mệnh dân. Tình hình tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) không thể nhanh chóng ổn định theo hướng tích cực, lành mạnh, đúng đắn, của những người có tri thức và tâm huyết, để giữ vững quyền tự chủ kinh tế – tài chính (tiền tệ) của Đất nước.
Tuy tìm đủ mọi biện pháp, nhưng tình hình vẫn không khả quan là mấy. Hầu như diễn biến quốc nạn này lại gần như trước đây sáu, bảy năm. Biện pháp vào tháng mười một (Phạm Thận Duật vẫn là thượng thư Bộ Hộ): hạ mệnh giá loại tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) đến mức rất thấp. “Chuẩn định cho tiền đồng kiểu mới khác [là] một đồng ăn hai đồng tiền kẽm; cho được tiêu dùng” (173) . Thủ phạm vẫn là bọn “người buôn nhà Thanh” (173) . Đợt này, chúng lại nhập vào nước ta loại tiền nhỏ hơn, xấu và kém hơn rất nhiều, “đã do Bộ thần [Phạm Thận Duật] tâu [xin] chuẩn kén bỏ không dùng” (173) . Nhưng “sau vì phủ Thừa Thiên và các hạt phía nam, lưu bá tiền ấy đã nhiều, nếu hết thảy lựa bỏ, thì dân nghèo không được tiện lợi” (173) , nên phải chuẩn như trên! Chẳng khác gì hồi tháng mười một, năm Tự Đức thứ ba mươi mốt, Mậu dần (1878), Hoàng Diệu, Lâm Hoành, Đàm Khắc Nhượng, Đoàn Dao tâu xin bỏ cấm để đánh thuế loại tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) ấy!
Đó là lệnh chuẩn vào tháng giêng, năm Hàm Nghi thứ nhất, Ất dậu (1885).
Tháng hai, sau đó một tháng, tiền lại khan hiếm, vật giá vọt cao lên. Hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật lại phải họp để nhận định tình hình và đề ra biện pháp mới. Nguyên nhân tình trạng khan hiếm tiền trên thị trường, đẩy vật giá cao vọt lên là do “phần nhiều các nhà giàu hay chứa để [:cất] tiền đồng, tiền kẽm” (174), “tiền của không lưu thông” (174) ! Biện pháp ban hành với nội dung quy định số lượng tiền đồng, tiền kẽm được cất chứa; ai bất tuân sẽ bị phạt; quan chức địa phương thu tiền vào, đổi cấp bằng bạc (hình dạng đồng, nén, đĩnh, gọi là bạc tiền tệ [:kim loại bạc ở dạng tiền tệ]) (174). Nhưng trong thực tế, chẳng mấy ai đem tiền kẽm đổi bạc tiền tệ ở kho Nhà nước (174)! Bởi lẽ, trong thực tế, số lượng tiền tệ trở nên khan hiếm.
Ở Thanh Hoá (tỉnh đệm, tỉnh “bản lề”) và Bắc Kì trước nay chưa lưu hành tiền đồng, mà chỉ chuyên dùng tiền kẽm, nên không có quốc nạn ấy. Có chăng, cũng rất nhẹ. Đây là một quốc nạn chủ yếu xảy ra ở các tỉnh từ Bình Thuận trở ra, Nghệ An trở vào (175). Đến tháng tư nguyệt lịch, năm Hàm Nghi thứ nhất, Ất dậu (1885), do thông tư tham khảo từ Bộ Hộ đã gửi về các tỉnh ấy trước đó, những phản hồi từ các tỉnh có lưu hành tiền đồng lại đệ gửi về triều. Nhờ đó, thấy rõ sự bất đồng ý kiến trong tỉnh thần, đình thần.
Cơ mật viện (ba đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật) lại phải xác định các dữ kiện (175):
+++ 1. Nguyên lí tiền tệ xác định mệnh giá đồng tiền (mệnh giá = giá vật liệu kim loại + công thợ + nhiên liệu + khấu hao công cụ sản xuất…) trong thực tế thị trường lại vận hành theo luật cung – cầu! Tiền đồng thật khan hiếm, nên mệnh giá lại rất đắt so với giá thành sản xuất.
+++ 2. Không thể đơn thuần dùng mệnh lệnh hành chính và biện pháp hình luật trong thị trường, mà phải kết hợp với biện pháp kinh tế – tiền tệ, đồng thời phải chú ý đến điều kiện, bối cảnh cụ thể.
+++ 3. Tiểu dân (dân thường) rất dễ bị mê hoặc, mà lập ra, duy trì pháp luật lại rất cần ở dân thường. Điều khó cho dân là “tiền lạ” (tiền giả, tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) có hai loại không phân biệt được (loại ăn hai đồng tiền kẽm, loại ăn bốn đồng tiền kẽm).
+++ 4. Dẫu sao, nhân dân vẫn phân biệt được tiền nước ta (tiền thật) với “tiền lạ” (tiền giả, tiền sềnh, tiền đồng dị dạng, nói chung cả hai loại “tiền lạ”).
+++ 5. Không thể đủ khả năng để thu lại “tiền lạ” ấy (tiền giả, tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) mà đem đúc lại thành tiền thật nước ta.
+++ 6. Do đó, để giản đơn hoá tiền tệ cho dân đỡ nhầm lẫn, rắc rối, chỉ còn cách quy ra hai loại, không kể đến mệnh giá trước đây quy định tuỳ theo kích cỡ lớn nhỏ, hoa văn khác nhau: một loại là tiền thật (mệnh giá nhất loạt sáu đồng), một loại là “tiền lạ” (mệnh giá nhất loạt ba đồng).
““Nay xin tiền đồng của nước ta, không câu nệ ở hạng nào, đều xin cho ăn giá sáu (6) đồng; còn dư các hạng tiền kiểu khác cũng không kể lớn nhỏ, dày mỏng, mới cũ đều theo nhất luật ăn giá ba (3) đồng. Duy đồng nào xỏ không được [không có lỗ] thì đều đổi bỏ. Như thế thì tiền trong nước và ngoài nước có phân biệt, năng nhẹ có thích quân, [nên] dân gian dễ [có] điều kiện nhận dấu, buôn bán vừa được lưu thông.
Từ nay [trở] đi, y thế mà làm, quyết không thay đổi, không để ngờ hoặc nữa.
Đến như tổng lí bang trưởng [người Hoa kiều] không hay [:luôn] kiểm xét tiền nước ngoài chở đến, [thì] xin từ nay cùng với tấn thủ [:quan viên, lính canh gác cửa khẩu ở biển] cùng Khoa [đạo] định phạt, để chính việc buôn gian”.
[Vua] đều chuẩn đấy làm lệ [định]” (175)
.
Nguyên nhân nào gây ra quốc nạn tiền giả (tiền sềnh, tiền đồng dị dạng) này? Từ những năm trước, Viện – Bạc đã xác định: trực tiếp là bọn con buôn bất hảo người Thanh (nên đã gửi văn thư cho lãnh sự Anh ở Hương Cảng can thiệp), Pháp bao che và thậm chí khích lệ, chứa chấp cho bọn gian thương ấy (Gia Định là chỗ cất trữ, có thể cũng là nơi sản xuất tiền giả). Phải chăng Ngân hàng Đông dương Pháp đã sử dụng thủ đoạn thâm độc này để gây bất ổn thị trường hậu phương nước ta, nhằm tấn công quân sự và để áp đặt loại “đồng bạc con cò”, “đồng bạc hoa xoè” (tiền bằng kim loại bạc của Mễ Tây Cơ [piastre Mexicaine] (176)) và đồng bạc do Ngân hàng Đông dương của bọn tư sản tài chính Pháp phát hành? Không phải là tình cờ, tuỳ hứng mà bọn Pháp lại áp đặt Điều khoản XXVII ở “hoà” ước thực chất là hàng ước Quý mùi 1883:
“… Đồng bạc Mễ Tây Cơ (Mexique) và các tiền tệ bằng bạc của xứ Nam Kì thuộc Pháp sẽ cùng với các tiền tệ của nước Nam đồng thời cưỡng bách lưu hành trên khắp vương quốc” .
Nội dung này của điều khoản hai mươi bảy (XXVII) ấy tuy không hoàn toàn bị bãi bỏ trong “hoà” ước Giáp thân 1884, nhưng “để bàn định sau” , do sự đấu tranh của các vị đại thần Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan.
Đối với quan đệ nhị phụ chính Tôn Thất Thuyết, đến lúc này ông càng thấm thía sự thâm độc của bọn tư sản tài chính – ngân hàng Pháp và bọn con buôn tiền giả người Hoa nhà Thanh, và hơn lúc nào hết, ông hiểu được sự trong sáng, dũng cảm, bình tĩnh đạt đến bậc nho tướng, sự mẫn tuệ đạt đến bậc đại trí của vị đệ nhất phụ chính Nguyễn Văn Tường. Ông hối hận biết bao vì tật “nóng nảy, nói càn” và sự “ít học” của mình, nhất là đã mắc mưu bọn giặc miệng thân Pháp, “tả đạo” hồi mấy năm trước (177)!

21

Tháng mười một Giáp thân (1884), Pháp lại bàn định với triều đình để bố trí tuần phủ các tỉnh Thái Nguyên, Ninh Bình, Quảng Yên. Những viên quan được giữ chức đầu tỉnh ấy đã từng là quan triều đình lâu năm (cả ba đều đương chức bố chính sứ sở tại) (178). Có một trường hợp, thự bố chánh sứ Quảng Yên Vũ Hữu Ngọc sau một thời gian quyền sung tuần phủ tỉnh ấy, lại cáo bệnh (178)!
Pháp lại tiếp tục lấn bức triều đình về lĩnh vực khác. Đó là khai mỏ khoáng sản!
“Thượng thư Bộ Hộ là Phạm Thận Duật sung toàn quyền khâm sứ, thự Binh bộ hữu tham tri là Hoàng Hữu Thường làm phó, hội đồng với Pháp toàn quyền khâm sứ là Lô Mi Ơ [Lemaire] bàn định thuế lệ về việc khai mỏ, chiểu theo “hoà” ước [Giáp thân 1884], khoản mười một (XI) [và khoản XVIII ?]. Lần ấy khâm sứ bàn định điều khoản công việc, phần nhiều không được ổn thoả. Đã hai, ba lần [thông] tư đi [thông] tư lại, bàn bạc [vẫn] chưa xong. Rồi việc cũng thôi” (179) .
Pháp cố lấn bức triều đình, nhưng triều đình với sự lãnh đạo, cố vấn của hai quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, chúng không dễ dàng áp đặt ý muốn tham lam không đáy của chúng. Cho đến mãi về sau, dưới ngụy triều Đồng Khánh và với tên tay sai xu thời Nguyễn Hữu Độ, sự “chấp hành, tuân theo” (?!) của Nguyễn Thuật, thực dân Pháp mới kí kết được điều ước về khai khoáng này (180)!
Về việc khai thác các mỏ khoáng sản, chỉ có một lần chúng ép được triều đình kí kết hợp đồng khai thác mỏ than Hòn Gai – Hà Lầm trong thời hạn một trăm năm (kể từ ngày kí là mùng sáu tháng bảy Giáp thân [27.08.1884] – 1984). Văn tự hợp đồng gồm mười điều khoản, có bốn chữ kí và ấn triện của Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật và Hồng Hưu. Bên cạnh đó là chữ kí của Rheinart. Phía Pháp trao cho phía Đại Nam một khoản tiền là bốn chục nghìn (40.000) đồng bạc Mễ Tây Cơ [piastre Mexicaine] (181)!
Thật ra, Hòn Gai đã bị Henry Rivière chiếm đóng từ hai năm trước (12.03.1883). Bấy giờ, hai phụ chính muốn nhờ tay Lý Hồng Chương, quân Thanh chiếm lại theo thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” (182) !
Dẫu sao, đó cũng là một sự cưỡng bức “hợp đồng”!
Vụ cưỡng bức kí “hợp đồng” khai thác mỏ than Hòn Gai – Hà Lầm này xảy ra vào thời điểm ngay sau khi vua Kiến Phúc mất, vua Hàm Nghi lên ngôi, và tàu thuyền, quân binh do Guerrier kéo vào Huế làm sức ép.
Tại Bắc Kì, một toán giặc trốn của nước Thanh (những kẻ phạm pháp bên Tàu trốn sang nước ta) lại nổi máu “hiệp sĩ hảo hớn giang hồ”, từ rừng Đông Triều kéo ra tấn công một đồn của Pháp (183). Quân Pháp phải rút. Toán “giang hồ” ấy cũng bỏ đi. Bọn Pháp ngờ bang biện Đông Triều với những “hảo hớn” ấy đã liên hệ với nhau trước. Ông liền bị Pháp giết (183). Bọn Pháp lại nhặt được một bức thư, nội dung ghi rõ là tổng đốc Hải [Dương] – [Quảng] Yên Hà Văn Quan [bí] mật [thông] tư cho tuần phủ Lạng Sơn để yêu cầu quân Thanh chi viện đánh Pháp (183). Chúng liền bắt Hà Văn Quan vào thành giam giữ. Đến khi xét khuôn dấu kiềm ở thư, so với khuôn dấu kiềm thật, biết là thư giả (183), bọn Pháp mới thả quan họ Hà về (183). Khi Hà Văn Quan cùng Đào Quý đi Hà Nội để trình bày lại vụ việc cho thống lĩnh Pháp Brière de L’Isle, lúc ngang qua Bắc Ninh, Hà Văn Quan lại bị quân người Hoa nước Thanh, không rõ là thổ phỉ, giặc trốn hay quân triều đình nhà Thanh, bắt đi, lại thả về! Hà Văn Quan tâu về triều đình: “Trước bị quân Pháp bắt giữ, sau vì bọn giặc [Khách] đón bắt, lo sợ thành bệnh, sợ khó chịu nổi sự rối ren ấy. Xin chọn viên khác thay cho, [để được] về kinh chịu tội” (183) . Nhưng ông ta không được như ý. Triều đình không cho, Pháp cũng yêu cầu lưu chức (183)!
Quả là một thời kì đau lòng, rối ren, hỗn loạn.
Millot cũng đã về nước từ tháng bảy nguyệt lịch (184). Brière de L’Isle được thăng quân hàm trung tướng, thay y (184). Quân Pháp từ tháng mười một trước đã được tăng viện thêm một ngàn quân (1.000) viễn chinh ở Pháp sang. Trong những ngày cuối năm rét buốt, sau khi mộ được bảy ngàn (7.000) phu tải đồ, Brière de L’Isle chia bảy nghìn rưỡi (7.500) quân lính làm hai đạo, tiến đánh quân Thanh tại Lạng Sơn. Một đạo thuộc quyền tên thiếu tướng De Négrier. Một đạo thuộc tên đại tá Giovannielle (184).
Quân Pháp đã nghiên cứu địa hình. Chúng biết con đường từ Kép lên Lạng Sơn là một hẻm núi. Quân Thanh phục kích sẽ giết gọn nếu quân Pháp tiến theo đường hẻm núi ấy. De Négrier vờ đem quân từ Hà Nội đến Kép (Bắc Ninh), phô trương thanh thế, làm như sắp tiến quân theo hẻm núi ấy. Thực ra, tên tướng giặc Pháp này lại hành quân tới Chu [:Chũ]. Ngày mười tám, mười chín tháng chạp, chúng đánh tạt ngang, lấy được đồn Tuần Muội (ải Chi Lăng), đồn Điều Vàng của quân Thanh. Ngày hai mươi hai, Pháp chiếm xong đồn đại doanh Giản Hoàn. Quân Thanh đang đóng tại Bắc Lệ, thấy bị chặn đường về, bèn rút (184).
De Négrier lại tiến đánh. Ngày hai mươi chín cuối năm ta, sau bốn ngày nổ súng công thành, giặc Pháp chiếm luôn thành Lạng Sơn (184)! Thành Lạng Sơn, nơi có bao nhiêu kỉ niệm của quan phụ chính Nguyễn Văn Tường, Đoàn Thọ, Vũ Trọng Bình, Đặng Toán, Lê Văn Dã, Ông Ích Khiêm!
De Négrier lại đánh thẳng lên Đồng Đăng. Quân Thanh chia ra hai ngã về nước: Thất Khê và Nam Quan. Giặc Pháp đánh và phá cả cửa ải Nam Quan, vào ngày mùng tám tháng giêng Ất dậu (1885). De Négrier giao lại cho viên phó của y, còn y lại về Hà Nội (184).
Lã Xuân Uy và các tỉnh thần khác của ta đều về chức cũ, theo lời bàn định của các đại thần Cơ mật viện (184).
Khi quân Pháp đang tiến đánh Lạng Sơn, quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc từ mạn sông Hồng, sông Lô lại lập tức kéo về đánh thành Tuyên Quang (185). Từ đầu tháng mười một Giáp thân (1884), quân của họ Lưu đã về đóng ở phủ Yên Bình, phủ Đoan Hùng. Quân Thanh chặn hết những chỗ hiểm yếu, không cho quân Pháp lên tiếp ứng, sau đó, quân Lưu Vĩnh Phúc tấn công thành Tuyên Quang. Trong thành, có sáu trăm (600) quân do tên thiếu tá Dominé chỉ huy. Những trận công thành nổ ra cho đến rằm tháng chạp, quân Lưu Vĩnh Phúc mới vây hãm được thành Tuyên. Hai bên cứ công, thủ giằng co (185).
Ngay sau khi chiếm xong thành Lạng Sơn, tên trung tướng Brière de L’Isle giao binh quyền cho De Négrier. Mùng hai Tết Nguyên đán Ất dậu (1885), y kéo quân về theo đường đồn Chu, tới Hà Nội, rồi lên giải cứu cho Dominé. Ngày mười ba tháng giêng, Brière de L’Isle lên Đoan Hùng, rồi hành quân vượt sông Chảy (185).
Quân Pháp với quân Thanh giao chiến ba ngày trời, Pháp mới giải vây được thành Tuyên Quang. Hai bên đều thiệt hại nặng nề. Dẫu vậy, quân Tàu phải rút lên mạn ngược (185).
Ngay khi quân Pháp giải vây thành Tuyên, tại Lạng Sơn, chúng lại bị quân của tướng nhà Thanh Phùng Tử Tài (đề đốc Quảng Châu) chuẩn bị tấn công. Tướng họ Phùng vốn khá quen thân với quan phụ chính Nguyễn Văn Tường trong những năm về trước. Lúc này, ông đang đóng đại doanh ở Long Châu. Đến ngày mùng sáu tháng hai Ất dậu (1885), ông cho quân sang đánh Đồng Đăng. De Négrier tiếp viện cho quân Pháp tại đó và dự định đánh cả Long Châu trên đất Tàu. Nhưng sau hai ngày giao chiến, giặc Pháp bị thiệt hại nặng. Ngày mùng tám tháng hai, quân Pháp và cả tên De Négrier đều phải rút về Lạng Sơn. Chúng tải thương về đồn Chu (186).
Lực lượng quân Pháp lúc này tập trung tại Lạng Sơn đến ba vạn rưỡi (35.000) tên (186)! Một con số rất lớn từ trước đến nay!
Ngày mười ba tháng hai, quân Thanh tràn sang đánh đồn Kỳ Lừa. Tên tướng De Négrier bị thương nặng. Tên trung tá Herbinger giữ quyền chỉ huy. Nhưng quân Pháp không chống nổi quân Thanh với một lực lượng hùng hậu. Herbinger đành cho rút quân về ải Chi Lăng (đồn Tuần Muội), rồi rút dần về đồn Chu, đồn Kép (186).
Tên trung tướng Brière de L’Isle điện về Pháp xin quân cứu viện, sau trận đại bại nhục nhã đó tại Lạng Sơn (186)! Y lại đưa quân lên đồn Chu để án ngữ.
Quân Thanh hoàn toàn chiếm giữ được Lạng Sơn. Nhân thế thắng đó, từ mạn sông Hồng, quân của các quan kháng chiến nước ta lại kéo về tấn công quân Pháp để chiếm lại những vùng đất gần Hưng Hoá, Lâm Thao (186)…
Chính chiến thắng của quân Phùng Tử Tài tại Lạng Sơn đã xô ngã tên thực dân chóp bu Jules Ferry khỏi ghế thủ tướng Pháp với hình thức “từ chức trong danh dự” (187)!
Chính phủ Pháp tại Paris liền ra lệnh cho Patenôtre lo việc hoà nghị với Lý Hồng Chương. Mặt khác, chúng cho quân viễn chinh Pháp sang tiếp viện thêm. Tên trung tướng Roussel de Courcy giữ chức thống đốc quân dân sự vụ, tên trung tướng Warnel làm tổng tham mưu trưởng. Hai tên thiếu tướng khác là Jamont và Proudhomme chỉ huy hai sư đoàn quân xâm lược Pháp (188). Tất cả quân chi viện cho Brière de L’Isle đang lên tàu binh sang Bắc Kì nước ta!
Những ngày cuối năm Giáp thân (1884), đầu năm Ất hợi (1885), quả thật chưa thể nói tới niềm vui! Những ngày trầm hương ấy, triều đình vẫn phải xem xét các nghi thức tâm linh cổ truyền. Có một lệnh dụ ban ra, “đình việc phong những mĩ tự cho bách thần, có vị nào chưa được phong mới xét rõ phong tặng” , bởi “thông minh, chính trực mà chuyên nhất là thần, há vui gì sự khen hay của người (189), chỉ là hư văn hót nịnh” (189) ! Đất nước, nhân dân tang thương như thế, “há vui gì sự khen hay của người” ! Nhưng cũng không thể không thấy quân Pháp vất vả, khốn đốn và tốn hao xương máu thế nào trong thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” của phụ chính Nguyễn Văn Tường!
Và rõ ràng, dẫu phải dựa vào quân Thanh, những vị quan kháng chiến của nước ta cũng làm cho giặc Pháp phải nhiều phen kinh hồn táng đởm!
Tháng chạp năm ấy cho đến tháng gần hết trung tuần tháng hai, ba đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật không biết Tết nhất với những sắc màu mùa xuân là gì! Có những cuộc họp đến thâu đêm với những bản tâu trình về tình hình chiến sự Pháp – Hoa ở Đài Loan (thuộc Trung Hoa) và tại Lạng Sơn, biên giới nước ta, nhất là về lực lượng của các quan ta kháng chiến.
Thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu”!

22

Tháng giêng năm Hàm Nghi thứ nhất, Ất dậu (1885).
Thực dân Pháp vẫn cố lấn hiếp nước ta. Từ tháng chạp năm ngoái, chúng bắt đầu tổ chức thu thuế thương chính tại đồn hải phòng tỉnh Quảng Nam, chuyên thu thuế xuất nhập cảng của khách thương người Hoa nước Thanh (190). Ở đấy, đành chỉ để lại hai viên trực thuộc tỉnh để khai báo về tỉnh. Ngoài ra, súng ống, thuốc đạn đều đưa về tỉnh lị (ở Vĩnh Điện, Điện Bàn) (190).
Công cuộc tổ chức xây dựng hệ thống sơn phòng, thượng đạo vẫn tiếp tục hoàn thiện. Pháp cố quyết không chịu cho triều đình bổ nhiệm Vũ Trọng Bình, một vị quan thẳng tính và thanh liêm làm thượng thư Bộ Hộ sung đại thần Cơ mật viện. Vị quan họ Vũ này liền nhận công tác bí mật, lo liệu việc chuyển vàng bạc, các vật dụng, tài liệu trữ ở kho tàng kinh đô vào Sơn phòng Dương Hoà tại Quảng Nam và các sơn phòng khác, Tân Sở ở Quảng Trị, Vạn Xuân ở Quảng Bình, Hương Khê ở Hà Tĩnh (191)…
Tháng hai, vua Hàm Nghi lại se mình, ngã bệnh (192). Lemaire đã cử thầy thuốc Pháp sang điều trị (!), nhưng may thay Viện Thái y đã thăm mạch, bốc thuốc và vua đã khỏi (192).
Thời tiết giữa xuân này còn dịu mát, tuy vậy, vẫn phải lo liệu phòng ngừa dịch tễ cho dân. Ngay từ tháng chạp, Viện Thái y đã cử người đi học phương pháp chủng ngừa đậu mùa rất thô sơ nhưng hiệu nghiệm (tại Hương Cảng và ngay cả tại Sứ quán Pháp ở Huế). Phương pháp ấy chỉ đơn giản là lấy mủ ở người đã bị lên đậu mùa, cấy trồng lại cho người lành mạnh với số lượng mủ rất nhỏ, rất ít, để tập cho cơ thể tự đề kháng với vi khuẩn bệnh. Đến tháng ba, mùa viêm nhiệt bắt đầu, Viện Thái y phái Võ Duyệt đi vào phía nam, Bùi Hanh đi ra phía bắc để truyền bá cho nhân dân phương pháp ấy (193).
Sách Tây vẫn được tìm mua và phiên dịch tại Ti Hành nhân. Số lượng sách mua tại Gia Định lần này đến bốn trăm mười hai (412) quyển (194).
Tấn phong phụ chính thân thần: Hoài Đức quận công Miên Lâm là Lạc quốc công, Hoà Thịnh quận công Miên Tuấn là Thịnh quốc công (195). Đó là một việc rất đáng ghi nhận khác.
Ngoài ra, tổng đốc Nghệ An Trần Văn Chuẩn đang bí mật nhưng ráo riết xây dựng, củng cố sơn phòng, nhất là tăng cường phòng thủ ở hai phủ Tương Dương, Quỳ Châu, nên ông tâu xin bổ sung tuần phủ là Lương Quy Chính (196).
Tên khâm sứ Lemaire lại lựa lời cho khéo nói nhưng nội dung lời nói lại rất nguy hại cho sự phòng thủ kinh thành! Y bàn nên dẹp bỏ các khẩu đại bác trên thành vốn chỏ vào Sứ quán Pháp (197). Thống chế Thần cơ Tôn Thất Phê và đề đốc kinh thành Nguyễn Hữu Ngoạn cùng với các tên chỉ huy quân Pháp phải họp bàn và đi kiểm xét (197). Mặc dù các quan ta, nhất là thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết rất phản đối, phản đối dữ dội, nhưng cuối cùng ông và các quan Cơ mật, đình thần cũng phải nhân nhượng cho chúng bịt lỗ châu mai ở các cửa đặt súng, đến bốn mươi lăm (45) cỗ (197)! Ngoài ra, còn phải cất súng khỏi các nơi ở đài Nam Xang, Bắc Trung và tại Trấn Bình đài (197)! Lemaire bảo, đã kí kết “hoà” ước Giáp thân 1884 rồi, sao đặt súng làm gì, nhất là sao lại chỏ (trỏ) họng súng đại bác vào Sứ quán (197)! Thật ra, ai chả biết chính bọn Pháp lại xé bỏ các cái gọi là “hoà” ước trước tiên!
Chính lúc ấy, quân Pháp bị bại tại Lạng Sơn. De Négrier bị thương, y về điều trị tại Hà Nội. Phái viên Viện – Bạc ở ngoài ấy, một cách rất ngoại giao, đem một số tặng phẩm đến biếu y. Silvestre trách, sao người trao vật phẩm lại quan cấp thấp! Phạm Thận Duật, Hoàng Hữu Thường đành sang Sứ quan tại Huế để làm động tác gọi là ngoại giao ấy (198)!
Trong khi đó, Pháp vẫn phá bớt thành của ta tại Hải Dương, xây dựng lại ở đấy căn cứ phòng thủ, đóng quân. Chúng đưa đến đó thêm hai chiếc tàu thuỷ, năm, sáu nghìn (5.000 – 6.000) quân Ả Rập, ba trăm (300) con ngựa (199)…
Pháp lại lấn hiếp nước ta mạnh hơn tại Nha Thương chính và Nha Hải phòng tỉnh Bình Định! Một tên thống nhiếp Pháp La Rơ Ri Ê (?) đem quân đến cưỡng bách, đoạt lấy tiền ở kho, cố quyết thu lấy thuế thương chính như ở Đà Nẵng (200). Cũng tại đó, chúng đóng đinh bịt kín lỗ châu mai đến sau mươi bảy khẩu súng đại bác của ta, cướp hết súng mổ bụng, lưỡi lê và tiền kho mang đi! Lemaire ở Huế nhận được văn thư yêu cầu trả lại đủ, nhưng y vẫn im lặng, không trả lời (200)!
Để đối phó với tình hình ở Bình Định, hiệp lí thuỷ sư Lê Thận liền được điều động vào thay Trần Lưu Huệ, với hàm thự tuần phủ, lãnh chức vụ tổng đốc hai tỉnh Bình Định – Phú Yên (201). Nhân dịp đó, thị lang Bộ Binh Trương Văn Đễ cũng được đề bạt thăng thự tả tham tri Bộ Binh (201).
Bấy giờ, tháng ba nguyệt lịch, bọn Pháp lại yêu sách, buộc triều đình phải chấp nhận cho chúng huấn luyện, trang bị vũ khí cho một nghìn (1.000) viên lính của ta, kể cả việc trả lương, chi cấp quần áo! Không những tại Hà Nội, chúng còn yêu sách các tỉnh khác rồi cũng như thế (202)!
Một sự bức hiếp nữa của bọn Pháp:
“Phái viên Pháp bắt thự tổng đốc Hải – An [:Yên] là Hà Văn Quan, vây dinh tổng đốc và nơi ở của phó lãnh binh, soát lấy giấy tờ và kiềm ấn quan phòng, các dấu đồ kí và vàng bạc ở kho tỉnh ấy, cùng các triện riêng của các nhân viên, rồi đem Hà Văn Quan xuống thuyền chèo về Gia Định!
Việc ấy động đến tai vua [Hàm Nghi], [vua] sai Cơ mật [thông] tư cho khâm sứ Lô Mi Ơ [Lemaire] biết. Khâm sứ ấy cho rằng tướng Pháp là Cô Ra Xi [De Courcy] ngờ đốc thần ấy có thông đồng với quân Thanh, phúc lại [:trả lời lại] cho biết các [vật] hạng đã lấy, sẽ giao trả lại” (203)
.
Cũng như quan khâm sai và các quan tỉnh Hà Nội lúc tên Françis Garnier gây hấn (Quý dậu, 1873), Hà Văn Quan lại bị De Courcy hành hung thô bạo như thế! De Courcy nhận lệnh bọn Pháp chóp bu tại Paris sang nước ta, từ ngày hai mươi sáu tháng hai nguyệt lịch Ất dậu (12.04.1885) (204). Y đến Bắc Kì ngày mười tám tháng tư nguyệt lịch (31.05.1885), sau gần một tháng rưỡi đi đường biển (204). De Courcy vốn là một tên tướng Pháp rất hung hãn, lỗ mãng.
De Courcy đến nơi, biết sự thể đã xảy ra, ngay lập tức y chỉ thị chuyển Hà Văn Quan từ chỗ giam cầm xuống tàu và chở vào Gia Định thuộc Pháp!
De Courcy lại gặp được Nguyễn Hữu Độ!
Cuối tháng ba, Nguyễn Hữu Độ hoàn toàn bị vạch trần bản chất tay sai của y. Hơn bao giờ hết, tài nịnh hót và xu thời, “xem gió chuyển buồm” (205) của Nguyễn Hữu Độ được bộc lộ một cách rõ rệt đến thế. Y như người dong buồm trên biển, không cần biết gió sẽ đưa thuyền đi đến đâu, miễn là no thân ấm cật, khỏi nhọc sức. Nguyễn Hữu Độ không có một định hướng nhất định của kẻ sĩ chân chính. Nói cho đúng, Nguyễn Hữu Độ không phải không khôn ngoan, nhưng cái khôn ngoan của y chỉ vì áo cơm, quyền chức cho dù là quyền chức của một thứ tay sai, nịnh trên đạp dưới, phản dân hại nước, phụng sự bọn xâm lược. Lúc Brière de L’Isle, De Négrier kéo quân lên đánh chiếm Lạng Sơn, chính Nguyễn Hữu Độ đã tâu về kinh xin đề bạt hai tên “đàn em” cùng một giuộc với y là Hoàng Cao Khải và Nguyễn Huy Lân giữ chức quyền ở đấy để trợ giúp cho bọn xâm lược Pháp (206). Hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đã trách cứ, thậm chí khinh bỉ Nguyễn Hữu Độ, nhưng y quả là một tên vô sỉ!
“Thị lang quyền lí Hà [Nội] – Ninh [Bình] tổng đốc Nguyễn Hữu Độ vì rút quân giản binh về trạm, “được” giáng bốn cấp, điệu bổ, [nhưng] hãy tạm chuẩn cho lưu chức.
[Nguyễn] Hữu Độ lại nhân quân Pháp đến Lạng Sơn, xin đem Hoàng Cao Khải quyền bố chánh sứ Lạng Sơn, Nguyễn Huy Lân quyền án sát sứ.
Vua [Hàm Nghi] dụ khiển trách rằng:
“Đặt quan, chia chức, quyền tự triều đình. Cứ theo [“hoà”] ước mới thì [cấp quan như] ngươi không được dự [việc bổ nhiệm]. Duy gần đây nhân việc chiến tranh xảy ra, ta đặt quan viên nam bắc, [thấy] nên [thông] tư [cho] biết trước. Đó là do lúc thế sự khẩn yếu. [Như thế] chỉ là [cho ngươi] có quyền tạm một thời thôi. [Nếu] như nay tỉnh ấy có quyền đặt, quan Pháp thống sứ [nếu] như có bàn nói, [ngươi phải] lập tức giữ theo lời [“hoà”] ước [mới], bàn [với chúng] thôi đi, và [lập] tức tâu lên chờ chỉ [dụ]. Huống chi toàn hạt ngươi chỉ có hai tỉnh Hà – Ninh nay bèn yển nhiên lấy cả toàn [Bắc] Kì theo mình. Phép nước, lòng bầy tôi, hỏi vậy có đúng không? Nếu kẻ kia [Brière de L’Isle] một niềm cố yêu cầu, thì mặc họ làm lấy! Mình không dự đến” (206)
.
Quả thực, sau khi đánh chiếm gần xong Bắc Kì, bọn Pháp rất muốn đưa Nguyễn Hữu Độ lên chức “phó vương” (kinh lược sứ Bắc Kì), với một quyền hạn rộng, chỉ hệ thuộc triều đình trên danh nghĩa. Chúng rất cần những tên tay sai như tổng đốc Trương (1873), Nguyễn Trần Cáp, Nguyễn Hậu (1883), Hoàng Cao Khải, Nguyễn Huy Lân, và nhất là tên Nguyễn Hữu Độ, một kẻ vốn “nghe theo lời bọn con buôn lão luyện mưu lợi” (207) hồi Quý Dậu (1873), thời điểm Jean Dupuis gây hấn, khích biến tại Hà Nội! Chính những tên “đàn em” của Nguyễn Hữu Độ đã được y đưa lên, vốn do y lợi dụng quãng thời gian chiến tranh (1883), bấy giờ triều đình đã phải nhân nhượng Pháp, cho y có một phần quyền hạn bổ nhiệm. Ngay khi đã hơi ổn định tình hình, hai phụ chính thấy cần phải thay đổi các quan chức Bắc Kì do Pháp và Nguyễn Hữu Độ chọn đặt, De Courcy liền phản đối.
“Đô thống tướng mới của Pháp là Cô Ra Xi (lại tên nữa là Đa La Câu Ra Xuy, tướng cũ là Mi Lô về, tướng mới lại thay) [thông] tư cho khâm sứ ở kinh, bàn tâu xin quan lại Bắc Kì chớ vội thay đổi” (208) .
Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Huy Lân là như thế đó!
Trong lúc đó, đầu tháng tư nguyệt lịch Ất dậu (1885) này, thự tổng đốc [Nghệ] An – [Hà] Tĩnh Trần Văn Chuẩn mất! Triều đình, nhất là hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, hết sức thương tiếc. Vị tiến sĩ, người huyện La Hà, tỉnh Quảng Bình đó đã “lén làm, lậu giữ” trong công việc tăng cường, củng cố hệ thống sơn phòng, thượng đạo chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến không thể không xảy ra. Ông “làm mọi công việc ở hạt ấy rất giỏi giang, sĩ dân đều yêu mến. Gia ơn truy thụ tổng đốc, chiểu hàm cấp tuất. Do địa phương quan bắt phu đưa quan cữu về quê” (209) .
Tổng đốc Trần Văn Chuẩn lại như thế đó! Tổng đốc họ Trần yêu nước, thương dân và bọn tay sai Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Huy Lân bán nước, hại dân là cả một trời một vực!
Nguyễn Hữu Độ còn là một tên tự sùng bái đến mức trâng tráo, không biết xấu hổ (210). Y đã tự xây dựng đền sinh từ cho chính mình thông qua việc câu kết, mớm ý với bọn cường hào, địa chủ và những gã “đàn em” nịnh hót có khoa bảng như Nguyễn Huy Lân, thậm chí có cả văn tài như Hoàng Cao Khải! Đền sinh từ vốn là đền thờ người còn sống, có công lao to lớn với dân tộc, với nhân loại, và hoàn toàn, tuyệt đối do nhân dân tự nguyện đóng góp để xây dựng. Một người được tôn thờ khi đã chết, thiên hạ dễ thể tất quên đi những khiếm khuyết, nhưng một người được thờ sống như thánh hiền là là một người hầu như toàn bích… Thế mà Nguyễn Hữu Độ dám trâng tráo, trơ trẽn tạo uy tín cho mình như thế: Một vị thần sống làm tay sai cho giặc cướp nước!
“Trước đây [năm Giáp thân, 1884] tỉnh Hà Nội có dựng đền sinh từ Nguyễn Hữu Độ. [Y vốn] là quyền tổng đốc tỉnh ấy. Đốc thần [Nguyễn Hữu Độ] ấy đã dâng [tập] tâu xin lỗi.
(Lược nói [trần thuật, lược ý]: Thân hào hạt ấy bảo là đốc thần ấy làm việc ở hạt ấy đã lâu, [mọi] người đều biết, cảm tình, xin quyên và xuất của riêng tự [xây] dựng [cơ] ngơi sinh từ. Đốc thần ấy đã nhiều lần từ chối, nhưng bọn ấy giữ ý không nghe, tình [trạng] khó ngăn trở).
Rồi vì [quan] Khoa đạo là Bùi Hữu Tạo tâu hặc.
(Lược nói: Đốc thần ấy nghe lời nịnh hót của [bang biện] Hoàng Cao Khải và đề đốc Trương Văn Hậu, xây dựng sinh từ, trù phí [tổn] động tới [số tiền ở mức] hàng vạn. Hai viên bang biện, đề đốc ấy gửi tờ [giấy quyên góp] cho các thân hào phủ huyện, chia bổ [phần đóng góp số] bạc cho mỗi người [là] hai trăm (200) lạng! Xin xét nghiêm nghị để ngăn sự gian tà ở trong quan trường).
[Vua Hàm Nghi] chuẩn cho đốc thần [Nguyễn Hữu Độ] ấy và hai ti phiên, niết [:bố chánh, án sát], đồng thành thần [:quan cùng một tỉnh thành] là bọn Lê Đĩnh, Cao Xuân Dục đều đã minh bạch hồi tấu [:tâu phản hồi]. Đến đây, tập hồi tấu đã đến. [Trong tập tâu đó] từ ý đều nói sinh từ do dân thôn Đông Thành huyện Thọ Xương là Võ Văn Hoạt xướng làm mà thôi. ([Võ] Văn Hoạt là môn thuộc của đốc thần [Nguyễn Hữu Độ] ấy, khai nhận tự chủ [động] công việc, và tập nhận cữu, tập tham tâu đều tả [:sai lệch] cả).
Phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết duyệt [hồ sơ tố tụng], nói: “Đền ấy dụng làm, [phí tổn] tới hơn vạn đồng. [Võ] Văn Hoạt, hệ là một người tiểu dân [:dân thường], [cho nên] khó đoán [chắc] được sự lập tâm làm việc này. Chẳng qua trước thì người ta chỉ bảo, sau thì bị người [ta] rời bỏ”.
[Hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết] bèn tâu, [xin] chuẩn cho hai ti phiên, niết tỉnh ấy lại làm [việc] nghiêm giam [Võ] Văn Hoạt, bắt [y] khai để [thông] tư xử án.
(Từ lâu [vụ việc] chưa phúc [:xét lại, tâu trả lời lại]. [Bùi] Hữu Tạo nói với người rằng: “Người nguyên tham [:Nguyễn Hữu Độ], bị phụ chính thần đã chê [trách, phản] bác”.
Dần đến mùa hạ năm sau [Ất dậu, 1885], kinh thành xảy chuyện [:cuộc kinh đô quật khởi và thất thủ], việc bèn tẩm [:dìm việc, không tiếp tục xử lí])” (210)
.
Cuối tháng tư nguyệt lịch, năm Hàm Nghi thứ nhất, Ất dậu (1885) ấy, De Cham peaux lại một lần nữa đến kinh đô Huế, thay thế Lemaire. Thế là đã gần trọn tám tháng trời Lemaire giữ chức khâm sứ (résidents généraux, 10.10.1884 – 05.06.1885)!
De Champeaux, y đã lần thứ ba đến kinh đô cổ kính này. Lần này, tên thực dân khâm sứ De Champeaux ấy hí hửng mang theo một thông tin.
“Tham Bô [De Champeaux] đưa thư nói: “Hai nước Thanh, Pháp giảng hoà ở Yên Kinh nhà Thanh, [vào] ngày hai mươi tám tháng [tư, nguyệt lịch] ấy. Tờ [hiệp] ước [đã] áp dấu, kí tên, trao đổi việc xong. Xin [thông] tư cho các tỉnh Bắc Kì biết”.
“Lại thư khác nói: “Quan khâm sai nhà Thanh trước đến Hà Nội, quan Pháp phái quân hộ tống, đi các tỉnh Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn thông báo cho quân [Thanh] rút về [nước]…” (211)
.
Thế là hết?
De Champeaux còn yêu sách triều đình phải làm một việc đau lòng: “… khi [quân hộ tống Pháp] đưa [khâm sai nhà Thanh] đến hạt Hưng, Tuyên, gián hoặc vì đạo quân của nguyên bố chánh Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp đánh, có bị thương, bị chết. Xin chiểu luật mưu phản, đại nghịch nghĩ xử và thông dụ cho mọi nơi biết” (212)! Đây là một thủ đoạn của Pháp, nhằm hoàn toàn cắt lìa triều đình Đại Nam với cả những đội quân kháng chiến, “những toán này [vốn] được sự ủng hộ bí mật của triều đình Huế” (213) !
Đây là một nỗi đau lòng cho vua Hàm Nghi, hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và đình thần! Vua Hàm Nghi còn nhỏ tuổi, vẫn hiểu thấu nỗi đau bế tắc của hai phụ chính! Nhưng bố chánh sứ Nguyễn Văn Giáp đã bỏ đi mất biệt (212)!
Chẳng lẽ thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” đã hoàn toàn chấm dứt? Không! Hai phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vẫn thu thập được thông tin từ nhiều nguồn, thám báo phương xa của ta, khách thương người Hoa và cả người buôn nước mình. Hai vị và đình thần biết rõ tên trung tướng Courbet và hạm đội do y chỉ huy vẫn còn bị giam chân tại Đài Loan. Chúng đang cố sức vây Đài Loan để làm sức ép! Nhưng một điều rất thật là hiệp ước Thiên Tân đã được kí kết giữa Jules Patenôtre và Lý Hồng Chương, Tịch Sầm, Đặng Thừa Tu, vào ngày hai mươi bảy tháng tư, năm Quang Tự thứ mười một, Ất dậu (09.06.1885). Hiệp ước ấy có tên là “Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và thương mại” (214), được kí sau khi chính phủ Jules Ferry bị sụp đổ! Cả thảy gồm mười điều khoản. Có một số điều khoản chính:

+++ Về phía Trung Hoa:

- Trung Hoa thừa nhận và chấp nhận việc Pháp thống trị Đại Nam; chấm dứt hẳn việc coi Đại Nam là một thuộc quốc của Trung Hoa.
- Trung Hoa không được đưa quân đội sang Đại Nam.
- Trung Hoa không được cản trở công cuộc bình định của Pháp ở Đại Nam.
- Trung Hoa phải tôn trọng, hiện nay cũng như sau này, tất cả những bản hiệp ước, quy ước, cùng tất cả những cuộc điều đình trực tiếp đã có hoặc sẽ có giữa Pháp và Đại Nam.
- Trung Hoa phải có trách nhiệm giải tán, đàn áp, hoặc trục xuất tất cả những người Đại Nam nào sử dụng lãnh thổ của Trung Hoa để làm căn cứ hoạt động chống đối Pháp.

+++ Về phía Pháp:

Pháp sẽ rút quân khỏi Cơ Long (thuộc Đài Loan), ngay sau khi kí xong hiệp ước này, và một tháng sau Pháp sẽ hoàn toàn giải toả Đài Loan khỏi sự bao vây của quân Pháp.

+++ Pháp và Hoa:

Hai bênsẽ làm lễ hỗ giao hiệp ước tại Thiên Tân (Bắc Kinh) sau khi đã được tổng thống Pháp và hoàng đế nhà Thanh Trung Hoa phê chuẩn (214).

Đó là việc chính thức hoá quy ước Thiên Tân (hiệp ước Fournier – Lý Hồng Chương, kí ngày 11.05.1884 [mười tám tháng tư Giáp thân]) và quy ước đình chiến tại Paris (giữa giám đốc Các Công việc chính trị Bộ Ngoại giao Pháp Billot với uỷ viên kiêm bí thư thường trú của tổng thanh tra Thương chính, Hàng hải Trung Hoa James Duncan Campbell (mang hàm nhị phẩm nhà Thanh), kí ngày 04.04.1885 [mười chín tháng hai Ất dậu]) (215).
Những con đường sang Lào, sang Xiêm dày đặc bọn “tả đạo” của Puginier (216)! Con đường sang Trung Hoa bị hiệp ước Patenôtre – Lý Hồng Chương ngăn cản! Mối liên hệ của triều đình với các đội quân kháng chiến, bọn Pháp muốn cắt lìa! Thực dân Pháp đã dồn dân tộc ta và triều đình Đại Nam vào chỗ hoàn toàn bế tắc, không lối thoát!

Hết tệp 1
(PHÂN ĐOẠN 2)
Trọn TRUYỆN KÍ THỨ 11

Khởi viết từ 07 giờ 30 sáng ngày 06.01.2003
(04.12 Nh. ngọ HB.3)
Viết đến dòng chữ này vào lúc 09 giờ kém 10 phút
ngày 16.01.2003 (14.12 Nh. ngọ HB.3)
tại thành phố Hồ Chí Minh
.

TRẦN XUÂN AN


(95) Trong ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 113 – 120, nguyên văn “hoà” ước Giáp thân 1884 không chép phần mở đầu. Tôi trích phần mở đầu “hoà” ước ấy, theo phần phụ lục trong “Phạm Thận Duật, sự nghiệp văn hoá, sứ mệnh cần vương”, Hội KHLS.VN xb., 1997, tr. 361. (Cuốn sách tham khảo về Phạm Thận Duật kê trên, tôi đã có dịp phê phán ở phần chú thích tập III của bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử này).

(96) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 119.

(97) Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử (LGTS.), Nguyễn Huy Xước dịch, bản in ronéo, 1961, tr. 28. Về cuốn LGTS. này, chúng tôi đã tiếp thu và đã phê phán (một thao tác khoa học cần thiết trong việc tham khảo bất kì tư liệu nào, cuốn sách nào); xin xem: Trần Xuân An, Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, sắp xuất bản (2002).

(98) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 120.

(99) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 124.

(100) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 125.

(101) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 125.

(102) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 126.

(103) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 127 – 129.

(104) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 128 – 129.

(105) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 543 – 544.

(106) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 130.

(107) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 129 – 130.

(108) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 131.

(109) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 130 – 131.

(110) CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 476; GS. Nguyễn Văn Kiệm, bài viết tham luận trong Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường", ĐHSP. Tp.HCM., 20.6.1996, tr. 7 - 17. Đây là một bài nghiên cứu sử dụng rất nhiều tư liệu gốc của Hội Truyền giáo Bắc Kì (chủ yếu do Mgr. Puginier viết và báo cáo mật), đã được in thạch bản từ những năm cuối thế kỉ XIX tại xưởng in Kẻ Sở…

(111) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 159.

(112) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 139.

(113) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 543 – 544; CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 470 – 476.

(114) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 548.

(115) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 139 – 142.

(116) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 143.

(117) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 142 – 143.

(118) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 143 – 150.

(119) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 150 – 151.

(120) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 165 – 169.

(121) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 154 – 155.

(122) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 153 – 154.

(123) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 155.

(124) H. Cosserat, bài “Người ta viết sử như thế nào: Đón tiếp đại tá Guerrier tại Triều đình nước Nam ngày 17.8.1884”, Tập san Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du vieux Huế, Cadière làm chủ bút.), [BAVH., 1924], tập XI, Phan Xưng dịch, Nguyễn Vy hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. sđd., tr. 373 – 397, đặc biệt các tr. 379, 381, 384, 387 – 388, 393…

(125) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 176 – 178.

(126) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 156 – 158.

(127) Đúng ra vẫn để là “vương”, chứ không phải dịch như chữ “đế [vua]”: Gia Hưng vương.

(128) Căn cứ vào câu này (với đại từ nhân xưng chủ thể là “tôi”): “Hôm qua, tôi và Nguyễn Văn Tường đi đến Sứ quán ấy…”, để xác định bản tấu do Tôn Thất Thuyết viết và đọc.

(129) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 178.

(130) Nguyễn Nhược Thị Bích, Hạnh Thục ca (HTC.), (Trần Trọng Kim sưu tầm, phiên âm ra bằng chữ quốc ngữ, viết tựa, hiệu đính, chú thích), Nxb. Tân Việt, 1950, tr. 33; xin xem: Trần Xuân An, Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, sắp xuất bản (2002).

(131) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157.

(132) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157.

(133) HTC., Nxb. Tân Việt, sđd., 1950, Trần Trọng Kim chú thích ở tr. 47: Tờ sắc có câu: “Nguyễn Hữu Độ, tùng cửu phẩm, lĩnh Hà – Ninh tổng đốc”.

(134) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157 – 158.

(135) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 158.

(136) Inrasara (sưu tầm, phiên dịch, giới thiệu), Văn học Chăm II – Trường ca (VHC.II. TC.), Nxb. Văn hóa dân tộc, 1996, tr. 161 – 193. Trong cuốn sách này, có trường ca Ariya Po Parơng (Trường ca “Quan lớn Pháp”) do Hơp Ai viết. Đây là một trường ca được viết theo dạng kí sự bằng thơ. Tác giả Hơp Ai là “một người Chăm ở Ninh Thuận, ghi lại chuyến du khảo các di tích văn hóa Chăm với Po Parơng” (sđd., tr. 161). “Po Parơng” đó là E. Aymonier. Xem chú thích (135).

(137) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 158.

(138) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 158.

(139) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 140.

(140) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 163 – 164.

(141) Nguyễn Đắc Xuân, Hương giang cố sự (HGCS.), giai thoại “Vạ miệng”, Tủ sách Sông Hương xb., 1886, tr. 31 – 33.

(142) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 128; VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 545.

(143) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 165; Nguyễn Q. Thắng, Trần Văn Dư với phong trào Nghĩa hội năm 1885 (TVD. VPTNH.), Nxb. VHTT., 2001.

(144) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 165.

(145) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 169.

(146) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 169.

(147) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 169 – 170.

(148) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 101.

(149) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 171.

(150) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 170 – 173.

(151) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 53 – 57.

(152) HGCS., giai thoại “Không sợ súng”, Tủ sách Sông Hương xb., 1886, sđd., tr. 42 – 43. Theo cước chú của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, giai thoại này được tổng hợp từ tư liệu của nhà thơ tiền chiến Phan Văn Dật (giảng viên Đại học Văn khoa Huế) và các tư liệu khác. Về Phan Văn Dật (người Quảng Trị), xin xem: Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (nhiều lần tái bản với nhiều nxb. khác nhau).

(153) Báo cáo và đề nghị của Thomson (thống đốc Nam Kì): “Sau khi thất bại [ở] Hà Nội [vụ Henry Rivière bị hạ sát], nên bỏ cái cách dùng thương thuyết. Khi nào Tự Đức nghe tiếng đại bác đầu tiên thì Tự Đức mới kí hòa ước; cho nên phải đánh ở Huế. Muốn đánh Huế thì phải lấy pháo đài Thuận An”. Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 422.

(154) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 174.

(155) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 174.

(156) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 174 – 175.

(157) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 178.

(158) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 178 – 179.

(159) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 179.

(160) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 184.

(161) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 184 – 185.

(162) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 185.

(163) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 190.

(164) ĐNTL.CB., tập 31, sđd., 1974, tr. 103 – 104.

(165) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 255.

(166) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 179 – 180.

(167) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 183 – 184.

(168) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 184.

(169) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 187.

(170) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 190.

(171) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 197 – 198.

(172) Tập san Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH) (Bulletin des amis du vieux Huế [BAVH.], linh mục Cadière làm chủ bút.), bài “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên” của linh mục Aldophe Delvaux, Đặng Như Tùng dịch, Phan Xưng, Bửu Ý, Đỗ Hữu Thạnh, Hà Xuân Liêm hiệu đính, tập III, Nxb. Thuận Hoá, 1997, tr. 69; Trần Trọng Kim, VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 542.

(173) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 198.

(174) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 201.

(175) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 212 – 213.

(176) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 505 - 506: Nước Mexique (Mexico, Mễ Tây Cơ) cũng đã từng là thuộc địa của Y Pha Nho (Tây Ban Nha), Pháp, nơi có nhiều mỏ bạc. Đây là loại tiền tệ có từ lâu ở các nước Viễn Đông, kể cả nước ta, do Y Pha Nho sử dụng để mua bán, trước khi người Pháp đặt chân đến. Vả lại, từ ngàn xưa, ở Viễn Đông (châu Á), kim loại bạc đã là tín tệ giao dịch thương mại… Ca dao: “Chớ tham đồng bạc con cò, Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa”. France: Phú Lang Sa. Xin xem thêm: Bns. Xưa & Nay, số 84 + 85, tháng 01 + tháng 02. 2001, 69 - 70.

(177) ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 177.

(178) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 188 – 189.

(179) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 190.

(180) ĐNTL.CB., tập 37, sđd., 1977, tr. 105 – 107.

(181) “Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường”, kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. Tp.HCM., 20.6.1996, bài tham luận của TS. Nguyễn Thị Đảm, tr. 143 – 147; bài của Hoa Thám, Bns. Xưa & Nay, số 129 (177), tháng 12. 2002, tr. 33.

(182) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 394 – 396.

(183) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 190 – 191.

(184) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 193; VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 546 – 547.

(185) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 546 – 547.

(186) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 547 – 548.

(187) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 493.

(188) VNSL., Nxb. Tân Việt, bản 1964, sđd., tr. 548.

(189) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 191 – 192.

(190) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 197.

(191) ĐNTL.CB., tập 37, sđd., 1976, tr. 171 – 172.

(192) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 198.

(193) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 209.

(194) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 199.

(195) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 198.

(196) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 196.

(197) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 199.

(198) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 199 – 200.

(199) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 200.

(200) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 200.

(201) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 209.

(202) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 208.

(203) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 209.

(204) Dương Kinh Quốc, Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN.NSKLS), tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 253; CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 545.

(205) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 157 – 158.

(206) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 210.

(207) ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 263 – 264.

(208) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 200 – 201.

(209) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 211.

(210) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 213 – 214.

(211) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 214 – 215.

(212) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 214 – 215.

(213) Xem lại đoạn trích dẫn theo chú thích (110), truyện kí thứ mười một này.
(214) Dương Kinh Quốc, Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN.NSKLS), tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 253 – 254. Xin xem thêm: Nhiều tác giả, Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập I, TT. BS. TĐBK.VN. xb., 1995, tr. 810 – 811: các nhượng ước, hàng ước nước Thanh Trung Hoa đã phải kí kết với các nước thực dân Âu Mỹ: +++ 1. “Hoà” ước Nam Kinh 1842 (giữa Trung Quốc và Anh); +++ 2. “Hoà” ước Vọng Hạ [Áo Môn] 1844 (Trung – Anh, Mỹ); +++ 3. “Hoà” ước Hoàng Phố 1844 (Trung – Pháp); +++ 4. “Hoà” ước Thiên Tân 1858 (Trung – Anh, Pháp); +++ 5. “Hoà” ước Bắc Kinh 1860 (Trung – Anh, Pháp); +++ 6. “Hoà” ước Lý Hồng Chương – Fournier 1884 (Trung –Pháp); +++ 7. “Hoà” ước Tân Sửu 1901 (giữa Trung Quốc với mười nước Âu Mỹ [Anh, Mỹ, Đức, Nga, Pháp, Ý, Áo, Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha] và một nước châu Á [Nhật]). Trong tập II, bộ truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử này, ở chú thích (264), tôi sơ bộ nhận định về nước Nhật trong cùng thời kì, với các “hoà” ước Nhật phải kí với Anh, Pháp, Nga, Hà Lan… (từ 1854 đến 1858…), và đã lược trích “hoà” ước Nhật – Mỹ 1858 để tham khảo thêm. Xem thêm: Võ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Võ Mai Bạch Tuyết, Lịch sử cận đại thế giới (LSCĐTG.), quyển 1, Nxb. ĐH. & THCN., 1986, tr. 459 – 490. Cần có một cái nhìn bao quát toàn cảnh khi nhận định về các “hoà” ước Việt – Pháp, nước ta bị rơi vào thế bắt buộc phải kí với thực dân Pháp. Lâu nay, các nhà sử học thường mắc phải sai lầm là nhận định với cái nhìn cục bộ (chỉ soi mói vào sự suy vong của triều Nguyễn và dân tộc ta thời bấy giờ, lại tách giai đoạn lịch sử đầy bi hận ấy khỏi toàn thể bối cảnh khu vực, châu lục và thế giới).

(215) CXL., Nxb. Tp.HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 494; VN. NSKLS, tập 1, Nxb. KHXH., sđd., 1981, tr. 250 – 251.

(216) Xin xem lại đoạn trích dẫn theo chú thích (73) của truyện thứ mười một này.


Cước chú của bản “HOÀ” ƯỚC GIÁP THÂN (1884) (truyện kí mười một):

(*) Nguyên văn bản dịch: Nước Cộng hoà Pháp (La Répubique française).

Cước chú bài thơ được tương truyền là của Ông Ích Khiêm (cuối tiết 16 thuộc truyện kí thứ mười một):

(*) Bầu: dụng cụ đeo ở thắt lưng. “Bầu” tiểu đối với “mướp”.


Tư liệu bổ sung cho truyện thứ mười một:

I. “… Kể từ ngày 13.12.1883, một mật lệnh được truyền đi từ các sĩ phu, lãnh tụ đến cho các làng Phật giáo Bắc An Nam với nội dung khích lệ làm vũ khí chống lại “bọn Pháp nội công”. Cuộc tàn sát công giáo [thật ra, chỉ riêng bộ phận đích thực là “tả đạo”, theo giặc] sẽ thực hiện từ ngày 02 đến 08 tháng giêng 1884…” (NNBCĐH [BAVH., 1916], bài “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên” của linh mục Aldophe Delvaux, tập III, sđd., 1997, tr. 57).

II. “… Sự cố [Văn thân bình Tây sát tả] này […] phải chăng là một sự thức giấc đột xuất của Phật giáo chống lại Thiên Chúa giáo có sức mạnh và đang tiến triển hàng ngày trên đất An Nam? Phải chăng đây là hậu quả thảm khốc của trận chiến tôn giáo? […] Ông Phật phải chăng có một sự trả thù sau cùng đối với ông Chúa xâm lược?…” (NNBCĐH. [BAVH., 1923], bài “Một trang viết về lịch sử Quảng Trị, tháng 09.1885” của Jabouille, tập X, sđd., 2002, tr. 435).
Thực chất chỉ là chiến tranh xâm lược và chống xâm lược mà thôi! Đó là chiến tranh giữa một bên là Pháp, Tây Ban Nha và “tả đạo”; một bên là lực lượng chủ chiến thuộc triều Nguyễn, dân tộc Việt Nam với đạo lí yêu nước, thờ kính anh hùng dân tộc, tổ tiên truyền thống, trong đó có một phân số khá lớn đồng bào theo tam giáo [đồng quy].
Bộ phận đồng bào theo Đạo Phật là một lực lượng yêu nước vốn có truyền thống chống ngoại xâm lâu đời.

Chú thích xong vào lúc 10 giờ kém 15 phút,
ngày 19.02.2003 (19.01 Quý mùi HB.3).


TRẦN XUÂN AN


Hết tệp 1
(PHÂN ĐOẠN 2)
Trọn TRUYỆN KÍ THỨ 11

Xin xem tiếp tệp 3
(Phân đoạn 1 truyện kí thứ 12)
thuộc bộ sách “PCĐT. NVT.”.

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]



<< Home